vanban.org

Bản án 18/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 31/03/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với ông Trần Công K về việc “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.

Xử: Buộc ông Trần Công K phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ gốc 12.286.769 đồng và lãi quá hạn 105.661 đồng (Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2025), tổng cộng là 20.392.430 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "thẻ tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với ông Trần Công K về việc “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Nghị định số 101/2012/NĐ-CP Về thanh toán không dùng tiền mặ…; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự - ý kiÕn cña ông Nguyễn Văn Bình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. L
THÀNH PHỐ Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 18/2025/DS-ST
Ngày 31.3.2025
V/v tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch
vụ thanh toán qua tài khoản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN L, THÀNH PHỐ Đ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

2. Bà Trương Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Việt Công Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L, TP. Đ tham gia phiên toà: Ông Đỗ Hùng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 242/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Ngân hàng S). Địa chỉ: 266-268 N, phường V, quận 3, thành phố H.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn N - Chức vụ: Chuyên viên kiểm soát rủi ro tuân thủ; địa chỉ: 130A-130-132 B, quận H, thành phố Đ, (Theo Quyết định v/v uỷ quyền ký hợp đồng/thảo thuận, văn bản và tham gia tố tụng số 4037/2024/QĐ-PC ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Giấy uỷ quyền số 125/2025/UQ-CNĐN ngày 01 tháng 01 năm 2025), (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Trần Công K - sinh năm: 2004; nơi cư trú: K156/3 N, tổ 3, phường H, quận L, nay thuộc tổ 3 (HM), phường T1, quận T2, TP. Đ, (Vắng mặt, không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại Bản tự khai ngày 04 tháng 12 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (- Ngân hàng Thương mại cổ phần S (viết tắt là Ngân hàng S)) trình bày:

Ngày 20 tháng 3 năm 2023, ông Trần Công K ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân với Ngân hàng S - Chi nhánh Đ và đến ngày 26 tháng 3 năm 2023, được Ngân hàng duyệt cấp hạn mức tín dụng 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng 2,6%/tháng, lãi suất quá hạn 3,9%/tháng và được Ngân hàng điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cho vay.

Quá trình sử dụng thẻ, ông K đã thực hiện 03 giao dịch với tổng số tiền 11.131.818 đồng (Mười một triệu một trăm ba mươi mốt ngàn tám trăm mười tám đồng) và đã thanh toán cho Ngân hàng được 04 lần với tổng số tiền 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm ngàn đồng). Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Điều khoản và Điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Do ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại Điều 2 của Điều khoản và Điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 10 tháng 8 năm 2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và sau ngày 10 tháng 8 năm 2023 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông K.

Ngân hàng khởi kiện đề nghị Toà án buộc ông K thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 10 tháng 10 năm 2024 là 17.469.634 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm sáu mươi chín ngàn sáu trăm ba mươi bốn đồng), bao gồm: Nợ gốc 12.286.769 đồng, lãi quá hạn 5.182.865 đồng; buộc ông K tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 11 tháng 10 năm 2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc ông K trả số tiền nợ tính đến ngày xét xử (- Ngày 31 tháng 3 năm 2025) là 20.392.430 đồng (Hai mươi triệu ba trăm chín mươi hai ngàn bốn trăm ba mươi đồng), bao gồm: Nợ gốc 12.286.769 đồng, lãi quá hạn 8.105.661 đồng; buộc ông K tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 01 tháng 4 năm 2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - ông Trần Công K không có ý kiến trình bày gửi đến Toà án; không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tại phiên toà, ông K vắng mặt lần hai, không có lý do.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L phát biểu: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý vụ án, thời hạn giải quyết, thu thâp chứng cứ, việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng được thực hiện đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp. Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng nguyên tắc xét xử, đúng thành phần, đảm bảo các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ. Việc hỏi, tranh luận được tiến hành khách quan, đúng trình tự theo quy định tại Mục 3 Chương 14 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 280, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự, các điều 91 và 95 Luật các tổ chức tín dụng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả toàn bộ số tiền nợ 20.392.430 đồng và tiền lãi tiếp tục tính kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2025 cho đến ngày thanh toán xong nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Tại thời điểm khởi kiện và thụ lý vụ án, bị đơn

- ông Trần Công K cư trú tại K156/3 N, tổ 3, phường H, quận L, TP. Đ. Do điều chỉnh địa giới hành chính, nay thuộc tổ 3 (HM), phường T1, quận T2, TP. Đ. Tòa án nhân dân quận L tiếp tục giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về việc vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa, bị đơn - ông Trần Công K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông K.

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S, Hội đồng xét xử thấy:

Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Công K không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Căn cứ vào Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Ngày 26 tháng 3 năm 2023, ông Trần Công K được Ngân hàng S - Chi nhánh Đ cấp hạn mức thẻ tín dụng 10.000.000 đồng theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân; mục đích tiêu dùng cá nhân; lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và phí thực hiện theo Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Hợp đồng được kí kết theo sự tự nguyện của các bên và tuân thủ quy định về hình thức của hợp đồng. Hội đồng xét xử công nhận hợp đồng đã ký là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch, xác định ông Trần Công K nợ của Ngân hàng số tiền 20.392.430 đồng, bao gồm: Nợ gốc 12.286.769 đồng và lãi quá hạn 8.105.661 đồng

Đến nay, ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại các điều 18, 19 và 23 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng S. Do ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ được quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản được quy định tại khoản 15 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng và điểm b khoản 1 Điều 14 Nghị định 101/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S, buộc ông K phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2025, bao gồm: Nợ gốc 12.286.769 đồng và lãi quá hạn 8.105.661 đồng, tổng cộng 20.392.430 đồng là hoàn toàn có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Lãi được tiếp tục tính từ ngày 01 tháng 4 năm 2025 theo mức lãi suất do Ngân hàng và ông K đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân, Điều khoản và Điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân trên số tiền nợ chưa thanh toán cho đến khi thi hành án xong.

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 20.392.430 đồng x 5% = 1.019.622 đồng (Một triệu không trăm mười chín ngàn sáu trăm hai mươi hai đồng) theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 280 và 351 Bộ luật Dân sự; khoản 15 Điều 4 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; điềm b khoản 1 Điều 14 Nghị định 101/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt; Điều 92, khoản 2 Điều 227, các điều 235 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với ông Trần Công K về việc “Tranh chấp về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.

Xử: Buộc ông Trần Công K phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ gốc 12.286.769 đồng và lãi quá hạn

8.105.661 đồng (Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2025), tổng cộng là 20.392.430

đồng (Hai mươi triệu ba trăm chín mươi hai ngàn bốn trăm ba mươi đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Án phí dân sự sơ thẩm là 1.019.622 đồng (Một triệu không trăm mười chín ngàn sáu trăm hai mươi hai đồng) ông Trần Công K phải chịu.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 436.741 đồng (Bốn trăm ba mươi sáu ngàn bảy trăm bốn mươi mốt đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0009021 ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận L.

3. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND Q. L;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Thanh Thủy THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ