vanban.org

Bản án 18/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Hà Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Hà Chí T 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/02/2024. Vật chứng thu giữ: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hình chữ nhật có viền sọc xanh, đỏ và đoạn ống nhựa màu trắng dùng để chứa tinh thể màu trắng được bỏ trong 01 phong bì hoàn mẫu số 77/KL/KTHS ngày 18/02/2024 của Phòng Kỹ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Chí T sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 199 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Hà Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U
TỈNH C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HSST
Ngày 28-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U TỈNH C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Việt Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Thía;

Ông Trịnh Hữu Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U , tỉnh C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U , tỉnh C tham gia phiên tòa: Ông Lê Vũ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U , tỉnh C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Chí T, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1992. Nơi sinh: xã Khánh Hoà, huyện U , tỉnh C. Nơi cư trú: Ấp 7, xã K, huyện U, tỉnh C .. Nghề nghiệp: Ngư phủ. Trình độ học vấn: 06/12. Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Hiếu và bà Nguyễn Thị Thật, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bắt quả tang ngày 13/02/2024, tạm giữ ngày 14/02/2024 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 3/02/2024, Hà Chí T đi đến nhà của Hà Văn P (bạn của T) ở ấp 6, xã Khánh Hoà chơi. Sau khi đến nơi, P đưa T xe hiệu Wave RS biển kiểm soát 59Y1 – 030.82 và kêu chạy đến nhà của Nguyễn Bá T1 ở ấp 4, xã K để lấy ma tuý về cùng nhau sử dụng thì T đồng ý. Sau đó, T lấy xe chạy đến nhà Tổng (cách vật liệu xây dựng Vạn Hạnh khoảng 50 mét) nhưng thấy nhà đóng cửa, không mở đèn nên gọi: “T1 ơi, lấy đồ", lúc này có 01 người thanh niên, khoảng 30 tuổi (không rõ lai lịch) mở cửa đưa cho T 01 ống nhựa được hàn kín 2 đầu, có kích thước khoảng (02 x 3,5)cm, bên trong chứa ma tuý, T lấy cất giấu trong túi quần Jean phía trước bên trái, sau đó điều khiển xe về nhà P, khi đi đến đoạn giữa cầu Công Điện và cầu Rạch Choại thuộc ấp 4, xã K thì bị Công an xã K và Tổ tuần tra dùng phương tiện kiểm tra phát hiện bên trong túi quần Jean bên trái, túi trước có 01 ống nhựa hàn kín hai đầu, màu trắng trong suốt bên trong có chứa chất tinh thể dạng rắn màu trắng, nghi là ma tuý nên lực lượng tiến hành lập biên bản bắt quả tang và niêm phong tang vật.

Tại Biên bản thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy ngày 13/02/2024 đối với Hà Chí T kết quả: Có chất ma túy trong cơ thể, loại Methamphetamine.

Tại Bản kết luận giám định số 77/KL/KTHS, ngày 18/02/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh C kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, niêm phong trong phong bì hình chữ nhật có viền sọc xanh, đỏ gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3616 gam, loại Methamphetamine.

(Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ).

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

- 01 ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong có tỉnh thể rắn màu trắng (nghi là ma tuý), đã được niêm phong. Sau khi giám định, hoàn lại phong bì hình chữ nhật có viền sọc xanh, đỏ và đoạn ống nhựa màu trắng dùng để chứa tinh thể màu trắng được bỏ trong 01 phong bì hoàn mẫu số 77/KL/KTHS ngày 18/02/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh C được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên giám định viên Dương Hải Đ (người chứng kiến) Trần Trọng N (người niêm phong) và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự đóng giáp lai niêm phong; 01 xe mô tô hiệu Wave RS 59Y1-030.82 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 5971 – 030.82 đứng tên chủ sở hữu Nguyễn Trần V, hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện U quản lý và 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 prím màu vàng đồng (đã qua sử dụng), có gắn sim số 0907530475, quá trình điều tra xác định bị can T không sử dụng diện thoại để liên hệ với người đưa ma túy nên không có liên quan đến vụ án, do đó Cơ quan điều tra đã trả lại cho mẹ ruột của bị can là bà Nguyễn Thị T quản lý.

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Chí T khai nhận: Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện U truy tố.

Tại Cáo trạng số 24/CT-VKS, ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U đã truy tố bị cáo Hà Chí T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Chí T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Chí T từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số 77/KL/KTHS ngày 18/02/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh C, tịch thu sung quỹ 01 xe máy Wave RS biển số 59Y1-030.82 và tịch thu tiêu hủy giấy 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 5971 – 030.82 tên Nguyễn Trần V.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện U , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện U , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến phản đối hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là tài liệu, chứng cứ hợp pháp.

Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 22 giờ 10 phút ngày 13/02/2024, Hà Chí T điều khiển xe mô tô hiệu Wave RS biển kiểm soát 59Y1 – 030.82 do Hà Văn P đưa bị cáo điều khiển để đi đến nhà của Nguyễn Bá T1 ở ấp 4, xã K mục đích nhận ma tuý về sử dụng, bị cáo đã điều khiển xe máy đến nhà T1 nhận ma túy do một người thanh niên (không rõ lai lịch) đưa rồi cất vào trong túi quần Jean phía trước bên trái. Sau đó, bị cáo T điều khiển xe quay về nhà của Hà Văn P ở ấp 6, xã Khánh Hoà để cùng nhau sử dụng thì bị lực lượng Công an xã K phối hợp với Tổ tuần tra an ninh trật tự của Công an huyện U phát hiện và bắt quả tang. Tang vật thu giữ là 01 ống nhựa hàn kín hai đầu, màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể dạng rắn màu trắng, được giám định là ma túy, có khối lượng 0,3616 gam, loại Methamphetamine.

Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi táng trữ ma túy trọng lượng là 0,3616 gam nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Cáo trạng số 24/CT-VKS, ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U đã truy tố bị cáo Hà Chí T về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi do bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất gây nghiện trong đó có ma túy loại Methamphetamine, xâm phạm an ninh trật tự xã hội; an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo biết rõ ma túy bị cấm sử dụng trái phép nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó, cần có một mức án nghiêm khắc cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian lao động, học tập trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện tính răn đe và phòng ngừa chung. Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt tù đối với bị cáo là có cơ sở.

Xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi của mình, bị cáo có ông cố nội là liệt sĩ và sống chung nhà với ông nội thờ cúng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự áp dụng cho bị cáo khi lượng hình. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Đổi với Hà Văn P và Nguyễn Bá T1 các đối tượng đã bỏ đi khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm và tách ra tiếp tục điều tra làm rõ, riêng đối tượng người thanh niên chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy phong bì hình chữ nhật có viền sọc xanh, đỏ và đoạn ống nhựa màu trắng dùng để chứa tinh thể màu trắng được bỏ trong 01 phong bì hoàn mẫu số 77/KL/KTHS ngày 18/02/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh C được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên giám định viên Dương Hải Đ (người chứng kiến) Trần Trọng N (người niêm phong) và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự đóng giáp lai niêm phong; Tịch thu sung quỹ 01 xe mô tô hiệu Wave RS màu đỏ đen bạc biên số 59Y1-030.82 và tịch thu tiêu hủy 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 5971 – 030.82 đứng tên chủ sở hữu Nguyễn Trần V, hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện U quản lý.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Hà Chí T phải nộp 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Hà Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Hà Chí T 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/02/2024.

- Vật chứng thu giữ: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hình chữ nhật có viền sọc xanh, đỏ và đoạn ống nhựa màu trắng dùng để chứa tinh thể màu trắng được bỏ trong 01 phong bì hoàn mẫu số 77/KL/KTHS ngày 18/02/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh C được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên giám định viên Dương Hải Đ (người chứng kiến) Trần Trọng N (người niêm phong) và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự đóng giáp lai niêm phong và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 5971 – 030.82 đứng tên chủ sở hữu Nguyễn Trần V; Tịch thu sung quỹ 01 xe mô tô hiệu Wave RS màu đỏ đen bạc biển số 59Y1-030.82. Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện U quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKS ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U và biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30 tháng 5 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện U và Chi cục Thi hành án dân sự huyện U .

- Buộc bị cáo Hà Chí T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ