- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn A - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyªn bè bÞ c¸o Lê VĂN A ph¹m téi “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè:18a/2024/HSST |
Ngµy: 12/4/2024.
Nh©n danh
n íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn Trùc Ninh tØnh nam ®Þnh
Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Xuân Mạnh .
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Phạm Hồng Thái
Bà Phạm Thị Minh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ - Cán bộ TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định .
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuần - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/HSST – QĐ ngày 29/3/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: LÊ VĂN A; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 16/8/1993; Nơi cư trú: thôn Q, xã T, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Lê Văn L, sinh năm: 1973; Họ và tên mẹ: Phạm Thị L1, sinh năm: 1973; Vợ: Phạm Thị L2, sinh năm: 1998; Có hai con: lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 13/11/2023 đến ngày 25/01/2024 tại NH tạm giữ công an huyện Trực Ninh; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” từ ngày 25/01/2024 đến nay.
- Người bị hại: Bà Nguyễn Kim D, sinh năm 1956. Người đại diện theo pháp luật: Ông H Đình H, sinh năm 1953. Trú tại: Thôn 1, xã G, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.( có mặt)
- Người làm chứng: Anh Hoàng Hữu T, sinh năm 1994. Trú tại: Đội 3, xã X, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.( vắng mặt)
Bà Hà Thị H, sinh năm 1964. Trú tại: Thôn 1, xã Trực X, huyện Trực Ninh,
tỉnh Nam Định.( có đơn xin vắng mặt)
Bà Đồng Thị N, sinh năm 1966. Trú tại: Thôn 1, xã X, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.( có đơn xin vắng mặt)
NỘI D VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau :
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/02/2023, Lê VĂN A điều khiển xe máy Honda Airblade màu xanh bạc đen biển số 18L1-365.11 chở Hoàng Hữu T hiện đang thuê trọ tại đội 3, xã Trực Thuận, huyện Trực Ninh từ thôn Phú Mỹ, xã Trực Hưng để về nH trọ của anh T. Khi đi đến đoạn đường tỉnh lộ 488B thuộc địa phận xóm 1, xã Trực Khang, Lê VĂN A điều khiển xe mô tô đi với tốc độ khoảng 30km/h - 40km/h ở phần đường bên phải theo hướng đi, cách mép đường bên phải khoảng 1m. Cùng thời điểm này, bà H Thị H, bà Đồng Thị N và bà Nguyễn Kim D đều trú tại xóm 1, xã Trực Khang đang đi bộ phía trước cùng chiều cách mép đường bên phải khoảng 0,5m. Do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên khi phát hiện thấy bà D đi bộ phía trước (bà D đi sau cùng) cách xe của Anh khoảng 02 mét thì Anh mới phát hiện thấy và đánh tay lái sang trái để tránh. Do khoảng cách quá gần dẫn đến phần tay lái bên phải xe mô tô va chạm vào phần lưng bên trái bà D làm cho bà D bị ngã nằm ngửa ra đường, xe mô tô của Anh bị mất lái đổ nghiêng sang bên trái rồi trượt rê về hướng xã Trực Thuận cách vị trí bà D nằm khoảng 5m thì dừng lại. Ngay sau khi xảy ra va chạm, Lê VĂN A và anh T đứng dậy quan sát thấy bà D đang nằm ngửa trên làn đường bên phải, Lê VĂN A liền hỏi nhưng không thấy bà D trả lời và nằm bất động. Lê VĂN A liền chạy lại dựng xe mô tô lên và gọi T phóng xe bỏ chạy khỏi hiện trường; bà D được người dân phát hiện đưa đi cấp cứu.
Hậu quả: Bà Nguyễn Kim D bị chấn thương sọ não được đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, sau đó chuyển điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, Bệnh viện y học cổ truyền tỉnh Nam Định.
Kiểm tra nồng độ cồn trong khí thở đối với Lê VĂN A tại thời điểm 11 giờ 11phút ngày 05/02/2023 là: 0,000mg/L.
Khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường được dựng lại, Hướng khám nghiệm là hướng UBND xã Trực Khang – UBND xã Trực Thuận.
Điểm mốc khám nghiệm là mép tường bên trái nH anh Trần Văn Kỳ ở thôn 1, xã Trực Khang, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định
Hiện trường khám nghiệm là đoạn đường thuộc đường tỉnh lộ 488B, thuộc thôn 1, xã Trực Khang, không bị che khuất tầm nhìn. Mặt đường trải nhựa bê tông nhẵn phẳng rộng 7,6m được chia tHành 2 phần đường ngăn cách bởi vạch sơn đứt đoạn màu trắng giữa tim đường mỗi bên rộng 3,8m; tiếp giáp lề đường bên trái theo hướng UBND xã Trực Khang – UBND xã Trực Thuận là sông tưới tiêu. Tiếp giáp lề đường bên phải là rãnh thoát nước ngầm rộng 1m; tiếp giáp rãnh thoát nước ngầm là khu dân cư.
Tài liệu đồ vật thu giữ:
- 01 (một) xe mô tô Honda Airblade màu xanh bạc đen biển số 18L1-365.11 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy.
- 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 790160086111 mang tên Lưu VĂN A do Sở Giao thông vận tải tHành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/4/2016.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 413/KLTTCT-TTPY ngày 27/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh H Nam xác định tỉ lệ tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Kim D tại thời điểm giám định là 72%. Cơ chế gây thương tích chấn thương sọ não do đầu va đập mạnh với vật tày gây nên.
Ngày 29/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Trực Ninh ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị Kim D; ngày 03/01/2024 Trung tâm pháp y tỉnh H Nam trả lời: tại thời điểm giám định đã khám, đánh giá hết các tổn thương cùng di chứng và xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Kim D được ghi nhận trong kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 413 ngày 27/10/2023.
Xử lý vật chứng:
Qua xác minh chiếc xe mô tô biển số 18L1-365.11 là của chị Phạm Thị Liên sinh năm 1998 ở thôn Q, xã T, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (là vợ của Lê VĂN A): Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cùng giấy tờ kèm theo cho chị Phạm Thị Liên.
Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lưu VĂN A: chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, Lê VĂN A cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường cho bà Nguyễn Kim D tổng số tiền 280.000.000₫ (Hai trăm tám mươi triệu đồng) gồm chi phí điều trị thương tích và tổn hại sức khỏe. Đại diện gia đình bà D đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác về dân sự.
Tại cơ quan điều tra Lê VĂN A đã khai nhận T bộ Hành vi phạm tội như trên.
Bản cáo trạng số 75/CT-VKS-TN ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh truy tố Lê VĂN A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
T¹i phiªn tßa:
Bị cáo Lê VĂN A thừa nhận do thiếu tập trung không quan sát, thời điểm gây tai nạn chập choạng tối, bị cáo đã diều kiển xe mô tô gây tại nạn làm bà Nguyễn Thị Kim D bị tổn hại về sức khoẻ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã tHành khẩn khai báo, thừa nhận T bộ Hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê VĂN A theo T bộ nội D bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê VĂN A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo 36 tháng tù. Nhưng cho Hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm. Thời hạn tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã T quản lý trong thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường cho người bị hại, người bị hại không ý kiến đề nghị gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Đại diện người bị hại đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h ồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Trực Ninh, Điều tra viên, VKSND huyện Trực Ninh, KSV trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện theo pháp luật của người bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về Hành vi, quyết định của cơ quan tiến Hành tố tụng, người tiến Hành tố tụng. Do đó các Hành vi, quyết định của cơ quan tiến Hành tố tụng, người tiến Hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về Hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thừa nhận Hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản khảm nghiệm hiện trường; lời khai của những người làm chứng nên đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/02/2023, Lê VĂN A (đã được cấp giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô biển số 18L1-365.11 trên đoạn đường tỉnh lộ 488B thuộc xóm 1, xã Trực Khang, huyện Trực Ninh do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ dẫn đến xô vào bà Nguyễn Kim D đang đi bộ phía trước cùng chiều, hậu quả làm bà D bị chấn thương sọ não, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 72% rồi bỏ chạy khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm.
Nguyên nhân chính của vụ tai nạn giao thông do Lê VĂN A điều khiển xe đi không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ: vi phạm Khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; vi phạm khoản 1 Điều 5 Thông Tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an T của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
VKSND huyện Trực Ninh truy tố bị cáo Lê VĂN A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã tHành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, sau khi sự việc sảy ra bị cáo cùng gia đình đã tích cực chăm sóc người bị hại trong quá trình điều trị. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với Hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đủ điều kiện áp dụng điều 65 BLHS, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đảm bảo việc cải tạo giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và gia đình người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. HĐXX không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên :
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyªn bè bÞ c¸o Lê VĂN A ph¹m téi “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS.
Xử phạt bị cáo Lê VĂN A 36 ( ba mươi sáu) tháng tù, nhưng cho Hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/4/2024( Bị cáo bị tạm giam từ ngày 13/11/2023 đến ngày 25/01/2024).
Giao bị cáo Lê VĂN A cho UBND xã T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi Hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp Hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Khoản 5 Điều 65 BLHS.
2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo Lê VĂN A tại phiên toà.
3. Án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS năm 2015. Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc Lê VĂN A phải phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi Hành án dân sự, người phải thi Hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi Hành án, tự nguyện thi Hành án hoặc bị cưỡng chế thi Hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi Hành án dân sự; thời hiệu thi Hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự.
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận : - TAND Tỉnh Nam Định ( 1 bản) . - VKSND Huyện Trực Ninh,( 2 bản) . - Công an Huyện Trực Ninh ( 2 bản). - Chi cục THADS Huyện Trực Ninh (1 bản). - UBND xã ( 1 bản) - Bị cáo, ĐD người bị hại : (1 bản). - Lưu HSVA ( 2 bản); Lưu : VP. | (Đã ký và đóng dấu) Mai Xuân Mạnh |