- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sầm Ngọc N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Sầm Ngọc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/HSST Ngày 09/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Bá Bảy.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Phong
Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí
Ông Phan Ngọc Đài
Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thủy – Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2024/HSST ngày 22/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 26/3/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Sầm Ngọc N.
Tên gọi khác: không;
Sinh ngày: 05/4/1988; Nơi sinh: tỉnh Bắc Kạn;
Nơi cư trú: Thôn T, xã Ea T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12;
Giới tính: Nam; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;
Con ông: Sầm Văn C, sinh năm 1960; Con bà: Đồng Thị Ư, sinh năm 1962;
Vợ: Vi Thị H, sinh năm 1993; Con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014);
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024, Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người được Tòa án triệu tập đến tham gia phiên tòa:
- Người làm chứng:
Ông Dương Văn Đ - vắng mặt
Ông La Văn B - vắng mặt
Cùng trú tại: Thôn T, xã Ea T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Sầm Ngọc N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Sầm Ngọc N là đối tượng nghiện ma tuý. Vào khoảng 09 giờ, ngày 19/01/2024, N đi bộ từ nhà ra đường để đón xe xin đi nhờ vào thôn Tam Điền, xã Ea Tam, Krông Năng tìm mua ma tuý để sử dụng. Khi đi đến đoạn đường đất thuộc thôn Tam Điền, xã Ea Tam, huyện Krông Năng thì gặp một người đàn ông tên N (không rõ nhân thân, lai lịch). N hỏi người đàn ông này có ma tuý không để mua 400.000 đồng. Người đàn ông này nói có và đưa cho N một gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng. Sau đó, N bỏ gói heroine vừa mua được vào lai quần bên trái N đang mặc trên người. Đến khoảng 11h30 cùng ngày, khi N đi bộ về nhà được khoảng 800m thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong lai quần phía bên trái của N đang mặc một gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng, N khai là Heroine mua về để sử dụng.
Vật chứng vụ án: Thu giữ trong lai quần N đang mặc 0,1688 gam chất rắn màu trắng đựng trong gói giấy bạc màu vàng.
Tại bản kết luận giám định số 217/KL-KTHS, ngày 24/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong gói giấy bạc màu vàng được niêm phong là Ma túy, có tổng khối lượng 0,1688 gam, loại Heroine; hoàn lại sau giám định là 0,1289 gam ma túy loại Heroin và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật.
Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng truy tố Sầm Ngọc N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Phần tranh luận: Tại phiên tòa sau khi phát biểu quan điểm luận tội đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng giữ nguyên quyết định truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Sầm Ngọc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Sầm Ngọc N từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị:
Tiêu hủy khối lượng ma túy (loại Heroine) hoàn lại sau giám định 0,1289 gam và bao gói đựng Heroine.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Lời khai của bị cáo Sầm Ngọc N tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, tại thôn Tam Điền, xã Ea Tam, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk Sầm Ngọc N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,1688 gam (loại Heroin) trong lai quần của bị cáo đang mặc thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, hành vi mà bị cáo Sầm Ngọc N thực hiện đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroin, CôCain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được rằng chất ma túy nói chung và Heroin nói riêng đã và đang bị Nhà nước nghiêm cấm. Mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán... trái phép chất ma túy đều bị xử lý nghiêm minh thế nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã mua Heroin về để tàng trữ, khi có nhu cầu đem ra sử dụng, khối lượng ma túy (loại Heroin) mà bị cáo tàng trữ là 0,1688 gam. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm tới trật tự an toàn xã hội, chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Xét tính chất, mức độ hậu quả của hành vi, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo được việc cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và qua đó cũng có tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong cộng đồng.
. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được xem xét áp dụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng xa nên nhận thức về pháp luật có phần còn hạn chế; bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được xem xét áp dụng khi lượng hình phạt.
. Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với khối lượng ma túy (loại Heroin) 0,1289 gam còn lại sau khi lấy mẫu vật giám định được niêm phong. Đây là vật nghiêm cấm và không còn giá trị sử dụng nên tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố bị cáo Sầm Ngọc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Sầm Ngọc N 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt (ngày 19/01/2024).
[2]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tiêu hủy khối lượng ma túy (loại Heroin) 0,1289 gam còn lại sau khi lấy mẫu vật giám định và gói đựng mẫu vật gửi giám định được niêm phong (có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng).
[3]. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.
[4]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Năng; - Công an huyện Krông Năng; - THADS huyện Krông Năng; - Bị cáo; - Lưu HSVA, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN, CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Bá Bảy |