- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn Cường - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày: 02-02-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành và ông Nguyễn Trường Ca.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 02/02/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST- HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chu Văn C, sinh năm 1997; nơi cư trú: KDC T, phường T, thành phố C, tỉnh H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn L và bà Phạm Thị H; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” -Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1957
Địa chỉ: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh H (đã chết).
- Đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thị R:
1. Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1957
2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1980
3. Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1983
Đều trú tại: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh H.
4. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1981
Địa chỉ: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh H.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1957. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 19/10/2023, Chu Văn C (được cấp giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số GPLA:24017100596, có giá trị không thời hạn, nhưng đã đánh rơi mất) điều khiển xe mô tô BKS: 34B3 – 963.27 (xe C mượn của bà Vũ Thị H, sinh năm: 1969, nơi cư trú: KDC T, phường Đ, thành phố C, tỉnh H) chở anh Chu Văn H, sinh năm: 1991, nơi cư trú: KDC T, phường Đ, thành phố C, tỉnh H đi từ huyện L, tỉnh B về phường Đ, thành phố C theo hướng B- S. Khoảng 06 giờ cùng ngày, khi đi đến đoạn Km 89 + 300 Quốc lộ 37 thuộc địa phận KDC C, phường C, thành phố C, tỉnh H, đây là đoạn đường được trải bê tông nhựa tương đối bằng phẳng, mặt đường có chiều rộng 7,1 mét, tim đường có vạch kẻ sơn màu vàng đứt đoạn, phân chia hai chiều đường, một chiều đi B, chiều còn lại đi S. C quan sát phía trước cách đầu xe mô tô của C khoảng 50 mét về phía trước cùng chiều có bà Nguyễn Thị R, sinh năm: 1957, nơi cư trú: KDC C, phường C, thành phố C, tỉnh H đang đi bộ dắt theo xe đạp ở rìa đường bên phải cùng chiều đi với C. Do thấy đường vắng không có phương tiện nào khác tham gia giao thông nên C không giảm tốc độ tiếp tục điều khiển xe đi lên phía trước, khi đi đến vị trí bà R đang đi bộ do không chú ý quan sát nên phần đầu xe mô tô của C đã va chạm vào phía sau bà Rút. Sau va chạm xe đạp của bà R bị đổ nằm trên rìa đường, đầu xe hướng ra đường, đuôi xe hướng vào nhà số 357 T, trục sau của xe cách mép đường là 80cm, trục trước xe trùng với mép đường phải. Xe mô tô BKS: 34B3 – 963.27 bị đổ nghiêng bên phải trên đường đầu xe hướng ra tim đường, đuôi xe hướng vào nhà số 355 T, trục sau của xe cách mép đường là 40cm và cách trục trước xe đạp là 180cm, trục trước xe cách mép đường là 160cm. Bà R bị ngã xuống đường được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa tỉnh H và chết vào hồi 02 giờ 20 phút, ngày 20/10/2023.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 368/KLGĐTT-KTHS ngày 25/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương kết luận:
Nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị R là do chấn thương sọ não (vỡ xương chẩm).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 57/KLĐG ngày 21/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Chí Linh thể hiện:
Tiền thay thế và công tháo lắp sửa chữa, công sơn, gò, hàn của xe mô tô BKS: 34B3 – 963.27, nhãn hiệu: Honda, màu sơn: Trắng đen, loại: SH là 440.000 đồng
Tiền công sơn, gò, hàn của xe đạp, loại: Nữ, sơn màu đỏ, trên khung xe có dán tem có dòng chữ Geovant là 40.000 đồng
Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn đối với Chu Văn C ngày 19-10-2023 của Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Kết quả máy đo hiển thị nồng độ cồn trong hơi thở của Chu Văn C là 0,000mg/l.
Tại phiếu kết quả xét nghiệm của Trung tâm y tế thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với Chu Văn C kết luận: Âm tính với Methamphetamine.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 230.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì khác và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bà H sau khi nhận lại xe mô tô xác định thiệt hại nhỏ nên không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường nên không đặt ra giải quyết.
Việc thu giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho bà Vũ Thị H 01 chiếc xe mô tô BKS: 34B3 – 963.27; trả lại cho đại diện gia đình bà Nguyễn Thị R 01 chiếc xe đạp, bà H và đại diện gia đình bị hại đã nhận lại tài sản của mình và không có yêu cầu đề nghị gì.
Tại cáo trạng số 22/CT-VKS-CL ngày 19-01-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Chu Văn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Về bồi thường dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 230.000.000đ cho đại diện hợp pháp của bị hại, số tiền này đã bao gồm tất cả các khoản bồi thường theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; Luật phí, lệ phí ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Chu Văn C phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo từ 14 đến 17 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 tháng đến 34 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Chu Văn C cho Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố C, tỉnh H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và ăn năn hối cải đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Chu Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai, biên bản ghi lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 19/10/2023, tại Km 89+300, Quốc lộ 37, thuộc địa phận KDC Chúc Thôn, phường C, thành phố C, tỉnh H, Chu Văn C (đã được cấp giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô BKS: 34B3-963.27 hướng B- S đi đến đoạn đường trên thấy bà Nguyễn Thị R đi bộ dắt xe đạp đi phía trước cùng chiều nhưng do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên phần đầu xe mô tô đã va chạm phía sau bà R. Hậu quả bà R chết ngày 20/10/2023 do chấn thương sọ não.
Chu Văn C điều khiển xe mô tô trong điều kiện thời tiết tờ mờ sáng thấy bà Nguyễn Thị R đi bộ dắt xe trên đường đi phía trước cùng chiều nhưng thiếu chú ý quan sát, nhưng không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, không tuân thủ về tốc độ xe chạy đã vi phạm quy định tại Điều 12 Luật giao thông đường bộ làm chết 01 người.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể được luật Hình sự bảo vệ là “trật tự an toàn giao thông đường bộ” được thực hiện trong khi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với lỗi vô ý bị cáo không mong muốn hậu quả xảy ra và tin tưởng hậu quả không xảy ra. Nhưng hậu quả bà Rút chết đây là hậu quả nghiêm trọng, gây đau thương, mất mát cho gia đình nạn nhân. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là nghiêm trọng. Do vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã đến Công an thành phố Chí Linh trình báo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại, đại diện gia đình hai bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo của phường T; bị hại có một phần lỗi nhỏ. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này luôn tôn trọng quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách pháp luật, không vi phạm các điều mà pháp luật cấm, chưa bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính; có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, do vậy không cần phải bắt bị cáo Cường chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại Nguyễn Thị R xác nhận đã nhận được số tiền 230.000.000đ, số tiền này đã bao gồm tất cả các khoản bồi thường theo quy định của pháp luật không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền nào khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường khoản nào khác nên không đặt ra giải quyết.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Các vấn đề khác: Đối với bà Vũ Thị H là chủ sở hữu chiếc xe mô tô BKS: 34B3 – 963.27 do bị cáo Chu Văn C lấy xe để đi sau đó bị tai nạn bà Huyến không biết nên không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe tô BKS: 34B3 – 963.27 cho bà Vũ Thị H, bà H không có yêu cầu đề nghị gì nên không đặt ra giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
V× c¸c lÏ trªn:
QuyÕt ®Þnh:
Căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Chu Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Chu Văn C 14 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Chu Văn Cường cho Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố C, tỉnh H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra việc giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Không đặt ra việc giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Chu Văn C phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS TP. Chí Linh; - Cơ quan CSĐT TP. Chí Linh; - Bộ phận nghiệp vụ công an TP.Chí Linh; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vân Anh |