vanban.org

Bản án 18/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 07 (bảy) năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2023.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ nộp phạt 5.000.000 (năm triệu) đồng. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 2002/23, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Trần Đình H2 và cán bộ điều tra Trịnh Ri Sơn. Bên trong chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 7,1755 (bảy phẩy một b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 07 (bảy) năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 07 (bảy) năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HS-ST
Ngày: 26/02/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lưu Ly.

Ông Trần Đức Nhì.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Việt Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh Đ; Sinh ngày: 29/11/1981; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 442 đường NK, Phường C, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 145/7 đường số 12, khu phố AF phường BHH, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hoàng T (chết) và bà: Hồ Thị H; Có vợ: Là bà Huỳnh Thị Mai T1 (không đăng ký kết hôn) và con: Có 02 người con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/9/2023.

Nhân thân:

- Ngày 22/01/1999, bị Công an quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Công văn trả lời xác minh số: 30/CV-ĐTTH ngày 03/01/2024 của Công an quận Tân Bình).

- Ngày 12/3/2002, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục 18 tháng về hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định số:440/QĐ-UB). Chấp hành xong ngày 18/9/2003 (Công văn trả lời xác minh số: 1551/TGHK-GD ngày 24/11/2023 của Trại giam Huy Khiêm).

- Ngày 29/9/2005, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» (Bản án số: 163/2005/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/12/2006 và đã thi hành xong án phí ngày 17/7/2006 (Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số: 840/GCN của Trại giam Châu Bình và Công văn trả lời xác minh số: 15/XMTHA ngày 15/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Ngày 19/01/2017, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 21 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 17/2017/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 24/7/2018 (Giấy chứng nhận số: 438/GCN-CS1 ngày 25/6/2018 của Cơ sở cai nghiện ma túy Số 1).

- Ngày 24/9/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 21 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 148/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 10/02/2021 (Giấy chứng nhận số: 482/GCN-CS3 ngày 04/02/2021 của Cơ sở cai nghiện ma túy Số 3).

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Hồ Thị H; Sinh năm: 1953; Thường trú: 442 đường NK, Phường C, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 145/7 đường số 12, khu phố AF phường BHH, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.

(có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 11/9/2023, tổ công tác 363 - Số 2 thuộc Công an Quận 6 trên đường tuần tra phát hiện Nguyễn Minh Đ đang điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 59E2-241.47 chạy đến trước nhà số 380B đường PVK, Phường E, Quận F có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, đã thu giữ trong hộc đựng đồ phía trước bên trái của xe 03 gói nylon chứa tinh thể không màu (Đ khai là ma túy đá), nên tổ công tác đã giao Đ cùng vật chứng nêu trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Minh Đ khai: Khoảng 12 giờ ngày 11/9/2023, Đ điều khiển xe gắn máy biển số 59E2-241.47 đến khu vực trước hẻm số 106H đường HT thuộc Phường N, Quận H gặp một người phụ nữ tên B (không rõ lai lịch) mua 03 gói ma túy đá giá 2.200.000 đồng để sử dụng. Sau khi nhận 03 gói ma túy, Đ cất trong hộc đựng đồ phía trước bên trái của xe, rồi điều khiển xe chạy về đến trước nhà số 380B đường PVK thì bị kiểm tra bắt giữ như đã nêu trên.

Theo kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Trạm y tế Phường 5, Quận 6, Nguyễn Minh Đ dương tính với ma túy (chất dạng Methamphetamine, MDMA, THC).

Tại Kết luận giám định số: 10057/KL-KTHS ngày 19 tháng 9 năm 2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: Tinh thể không màu trong 03 gói được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Phi H1 (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường 5, Quận 6 (ký hiệu m) cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 7,5085g (bảy phẩy năm không tám năm gam), loại Methamphetamine.

Ngày 13 tháng 9 năm 2023, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 146/QĐ-ĐCSMT); khởi tố bị can đối với Nguyễn Minh Đ về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» (Quyết định số: 143/QĐ-ĐCSMT).

Đối với người phụ nữ tên B bán ma túy cho Nguyễn Minh Đ ở khu vực trước hẻm số 106H đường HT, Phường N, Quận H, hiện chưa xác định được lai lịch. Cơ quan điều tra đang tiến hành xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 11/CT-VKS-Q6 ngày 23 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Đ về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Minh Đ khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện hành vi cất giữ 03 gói ma túy tổng hợp (loại Methamphetamine hay còn gọi là ma túy đá) để dành sử dụng và bị Công an phát hiện bắt quả tang vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 11/9/2023 tại trước nhà số 380B đường PVK, Phường E, Quận F như nội dung bản cáo trạng nêu;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hồ Thị H xác nhận chiếc xe gắn máy biển số 59E2-241.47, số máy JK03E-2578557, số khung RLHJK0317NY574171 (loại xe hai bánh từ 50-175cm3, số loại Vision, sơn màu Xanh Nâu Đen, dung tích 109.5) là xe của bà, do bà đứng tên chủ sở hữu. Bà không biết con bà là bị cáo Nguyễn Minh Đ sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội và bà đã được nhận lại chiếc xe. Tại phiên tòa hôm nay, bà không có ý kiến hay yêu cầu gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Minh Đ như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ từ 07 năm đến 08 năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 2002/23, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Trần Đình H2 và cán bộ điều tra Trịnh Ri Sơn. Bên trong chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 7,1755 gam, loại Methamphetamine (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định).

Trả lại bị cáo Nguyễn Minh Đ 01 chiếc điện thoại di động màu vàng, có ghi chữ Samsung, số Imei 1: 352024091305742, số Imei 2: 352024091305749 (bên trong có 01 sim điện thoại số 0903038331) và 01 chiếc điện thoại di động màu đen, số Imei: 357757081665949, đều đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Mai Trọng Tân (Điều tra viên), Trịnh Ri Sơn (cán bộ điều tra), Nguyễn Minh Đ và hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Còn các vật chứng khác, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã xử lý xong, nên không đề nghị xử lý.

Lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Minh Đ nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối chiếu lời khai của bị cáo Nguyễn Minh Đ tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định số: 10057/KL-KTHS ngày 19/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh; lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Minh Đ đã phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).

Bị cáo Nguyễn Minh Đ đã cất giữ chất ma túy ở thể rắn và thời điểm bắt quả tang (vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 11/9/2023 tại trước nhà số 380B đường PVK, Phường E, Quận F) đã thu giữ trong hộc đựng đồ phía trước bên trái của chiếc xe gắn máy biển số 59E2-241.47 (hiệu Honda Vision, màu xanh nâu đen) 03 gói nylon, bên trong có 7,5085 gam ma túy, loại Methamphetamine (bị cáo khai số ma túy này là của bị cáo mua và cất giữ để dành sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy khác). Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền trong việc quản lý, trao đổi, cất giữ chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội. Hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp «Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam» theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Minh Đ là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, được quy định trong Bộ luật hình sự, nhưng để thỏa mãn lối sống không lành mạnh và nhất là xem thường pháp luật, nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Về nhân thân của bị cáo Nguyễn Minh Đ: Bị cáo có nhân thân rất xấu, đó là ngày 22/01/1999, bị Công an quận Tân Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 12/3/2002, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục 18 tháng về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 29/9/2005, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy»; ngày 19/01/2017, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 21 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy; ngày 24/9/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 11 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 21 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy. Cho thấy, tuy đã bị kết án, bị xử phạt vi phạm hành chính, bị đưa đi cai nghiện bắt buộc, nhưng bị cáo vẫn không chịu rèn luyện, tu dưỡng, không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là không tốt.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Minh Đ là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Mặt khác, ma túy nói chung và các chất ma túy ở thể rắn như Methamphetamine nói riêng là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của chính người sử dụng và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung, góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về ma túy. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Minh Đ theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Việc xử lý vật chứng:

Đối với 01 gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 2002/23, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Trần Đình H2 và cán bộ điều tra Trịnh Ri Sơn. Bên trong chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 7,1755 gam, loại Methamphetamine (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định), là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động màu vàng, có ghi chữ Samsung, số Imei 1: 352024091305742, số Imei 2: 352024091305749 (bên trong có 01 sim điện thoại số 0903038331) và 01 chiếc điện thoại di động màu đen, số Imei: 357757081665949, đều đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Mai Trọng Tân (Điều tra viên), Trịnh Ri Sơn (cán bộ điều tra), Nguyễn Minh Đ và hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ của bị cáo Nguyễn Minh Đ. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo vì không đủ căn cứ xác định do bị cáo phạm tội mà có hay bị cáo đã hoặc sẽ dùng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 109/PNK ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 10/QĐ-VKS-Q6 ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07 tháng 02 năm 2024 giữa Công an Quận 6 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6)

Đối với chiếc xe gắn máy biển số 59E2-241.47, số máy JK03E-2578557, số khung RLHJK0317NY574171 (loại xe hai bánh từ 50-175cm3, số loại Vision, sơn màu Xanh Nâu Đen, dung tích 109.5) thu giữ của bị cáo Nguyễn Minh Đ, Cơ quan điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Hồ Thị H (mẹ của bị cáo), nên đã xử lý trả lại cho bà H (theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 25/12/2023 - BL103) và tại phiên tòa, bà H xác nhận đã được nhận lại chiếc xe, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đối với người phụ nữ tên B mà bị cáo Nguyễn Minh Đ khai bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai không rõ nhân thân lai lịch, nên không có cơ sở điều tra làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Mặc dù tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh Đ khai đã 02 lần mua ma túy của người phụ nữ tên B để sử dụng, nhưng xét ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác, nên Hội đồng xét xử không đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp «Phạm tội 02 lần trở lên».

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 07 (bảy) năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2023.

- Căn cứ khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ nộp phạt 5.000.000 (năm triệu) đồng.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói ma túy bên ngoài có ghi vụ số: 2002/23, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Trần Đình H2 và cán bộ điều tra Trịnh Ri Sơn. Bên trong chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 7,1755 (bảy phẩy một bảy năm năm) gam, loại Methamphetamine.

- Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại bị cáo Nguyễn Minh Đ 01 (một) chiếc điện thoại di động màu vàng, có ghi chữ Samsung, số Imei 1: 352024091305742, số Imei 2: 352024091305749, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0903038331 và 01 (một) chiếc điện thoại di động màu đen, số Imei: 357757081665949, đều đã được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Mai Trọng Tân (Điều tra viên), Trịnh Ri Sơn (cán bộ điều tra), Nguyễn Minh Đ và hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07 tháng 02 năm 2024 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh)

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Minh Đ phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo Nguyễn Minh Đ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hồ Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ