- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? TuY bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày 27 - 3 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Xuân Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Khâm
Bà Nguyễn Thị Minh
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2024, tại Phòng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐ-HSST ngày 29 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn L, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn 6/12. Dân tộc: kinh; tôn giáo: không. Giới tính: nam. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn L1 (đã chết). Con bà Nguyễn Thị H sinh năm 1956. Vợ Trần Thị L2 sinh năm 1988 ( đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2008. Tiền án tiền sự: Không. Nhân thân:
+ Ngày 11/4/2013, TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 16/02/2015 chấp hành xong án phạt tù.
+ Ngày 16/12/2016, TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xử phạt 48 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 15/3/2020 chấp hành xong án phạt tù.
Bị cáo tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 29/12/2023, chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trực Ninh. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H 2 (có mặt), anh Nguyễn Văn Y (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn L là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 19 tháng 12 năm 2023, L đem theo số tiền 2.000.000đồng đi bộ từ nhà xin đi nhờ xe máy sau đó bắt xe buýt đến khu vực chợ Giao Tiến, xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tìm mua ma túy sử dụng. L gặp người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi, đứng một mình. Bị cáo đến hỏi mua 2.000.000đồng ma túy. Người đàn ông nhận tiền và đưa cho L 01 gói giấy màu trắng có in chữ số màu đen. L nhận ma túy, mở kiểm tra đúng loại ma túy cần mua, cất vào túi quần bên trái, đi bộ ra bắt xe buýt về nhà.
Khoảng 09 giờ ngày 20 tháng 12 năm 2023, L xuống bếp dùng đầu móng tay chia số ma túy đã mua thành nhiều phần nhỏ, mục đích khi nào có nhu cầu sử dụng sẽ lấy từng gói một sử dụng. Khi L vừa gói xong được 16 gói nhỏ thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ 16 gói giấy màu trắng có in chữ số màu đen bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng ở trên chiếu trước mặt L, được niêm phong ký hiệu M.
Bản kết luận giám định số 58/GĐKTHS ngày 25/12/2023 của phòng Kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 16 gói giấy màu trắng có in chữ số màu đen trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M là ma tuý. Loại ma tuý: Heroin, tổng khối lượng: 2,306 gam.
Tại cơ quan CSĐT Công an huyện Trực Ninh, Trần Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho L ngày 19/12/2023 tại khu vực chợ Giao Tiến, xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được là ai để xử lý.
Đối với người thanh niên cho L đi nhờ xe từ cầu C xã X, huyện Trực Ninh ngày 20/12/2023, theo L khai đây là lần đầu tiên gặp không biết tên, địa chỉ và đặc điểm xe của người này. Cơ quan điều tra không xác định được là ai để làm việc.
Bản cáo trạng số 04/CT-VKS-TN ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh truy tố Trần Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguY quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn L theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: TuY bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tịch thu tiêu huỷ số ma túy đã thu giữ của bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố vụ án đều đúng quy định pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh NamĐịnh; lời khai của những người làm chứng nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 35 phút ngày 20/12/2023, Trần Văn L có hành vi cất giấu trái phép 2,306 gam Heroin ngay tại nhà ở của mình thôn V, xã T, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, mục đích để sử dụng bị tổ công tác Công an xã X phát hiện bắt quả tang.
Hành vi tàng trữ 2,306 gam ma túy của Trần Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, như cáo trạng của VKSND huyện Trực Ninh truy tố bị cáo về tội danh, điều luật là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, HĐXX xét thấy: Bị cáo Trần Văn L đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động mua bán, sản xuất, sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, thể hiện việc xem thường pháp luật, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Do đó cần thiết phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với hành vi của bị cáo và cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: HĐXX xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy được thể hiện trong biên bản giao nhận vật chứng số 27/THA ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
TuY bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS.
Xử phạt Trần Văn L 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 20 tháng 12 năm 2023.
2. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy được thể hiện trong biên bản giao nhận vật chứng số 27/THA ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh.
3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn L phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuY án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định (1 bản); - VKSND huyện Trực Ninh (2 bản); - Công an huyện Trực Ninh (2 bản); - Chi cục THADS huyện Trực Ninh (1 bản); - UBND xã X, huyện Trực Ninh (1 bản); - Lưu HSVA (2 bản); - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẢM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Mai Xuân Mạnh |