- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Đinh Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày 24-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Cầm Văn Thăm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Minh Tiến.
2. Bà Lý Thị Dung.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Khánh Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Người tiến hành tố tụng:
Kiểm sát viên: Bà Cầm Thị Quỳnh Anh.
- Người tham gia tố tụng khác:
Cán bộ, chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Đinh Văn Hải, ông Cầm Văn Duy.
Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Đinh Văn H (tên gọi khác: không), sinh ngày 04 tháng 12 năm 1983 tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: bản Y, xã HT, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Mường; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: không; con ông Đinh Văn Th và bà Lò Thị Q; bị cáo có vợ là Hoàng Thị R (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2010 và con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10 tháng 9 năm 2024 cho đến ngày xét xử (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 30 phút ngày 10/9/2024, tổ công tác Đội CSĐTTP về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện Phù Yên, phối hợp với Công an xã QH làm nhiệm vụ tại khu vực bản CT, xã QH đã phát hiện Đinh Văn H đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn về ma tuý nên yêu cầu kiểm tra, H đã giao nộp 01 gói được gói bằng 02 lớp, lớp thứ nhất được gói bằng nilon màu trắng, lớp thứ hai được gói bằng nilon màu xanh, trong cùng chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy H khai nhận là Heroine. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Quá trình điều tra, bị cáo Đinh Văn H khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 10/9/2024, Đinh Văn H đi từ nhà xuống công viên 2/9 thuộc tiểu khu X, thị trấn Phù Yên chơi, thì H có gặp 01 người đàn ông không biết họ, tên, địa chỉ và hỏi mua ma túy để sử dụng. Người đàn ông hẹn H 18 giờ cùng ngày đến khu vực bờ kè Suối Tấc bản CT, xã QH để nhận ma túy. Đến giờ H đi bộ đến điểm hẹn và đưa 200.000đ, người đàn ông chỉ cho H chỗ cất giấu ma túy H cầm gói ma túy mua được và cất giấu vào cạp quần đang mặc rồi đi bộ về được khoảng 100m thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang thu cùng vật chứng.
Ngày 10/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên đã phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của Đinh Văn H có khối lượng là 0,221gam; lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu H1 và ra Quyết định trưng cầu giám định số: 676/QĐ-ĐCSHS-KTMT trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định.
Tại Bản kết luận giám định số: 1829/KL-KTHS ngày 12/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
- Mẫu gửi giám định ký hiệu H1 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,221 gam.
- Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là: 0,221 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Dicetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Cáo trạng số: 73/CT-VKS ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Đinh Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt đối với bị cáo như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn H từ 16 - 20 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 10/9/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong gồm: 01 vỏ phong bì ban đầu khi bắt quả tang đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu xanh sau khi cân tịnh.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Đinh Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra, không có ý kiến gì tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 18 giờ 40 phút ngày 10/9/2024 tại bản CT, xã QH; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong cân tịnh, lấy mẫu giám định; kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến sự việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 10/9/2024, bị cáo Đinh Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,221gam loại Heroine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Xét về nhân thân của bị cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, để cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.Tuy nhiên khi xem xét áp dụng mức hình phạt tù cũng cần phải xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có thu nhập ổn định, bản thân không có tài sản riêng có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về vật chứng: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang đã bóc mở, 01 mảnh nilon mầu trắng, 01 mảnh nilon mầu xanh được cho vào 01 phong bì của dán kín lại. Xét là những vật không có giá trị sử dụng, Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy.
Đối với người đàn ông là người bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.
Bị cáo chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/9/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ các điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm bên trong gồm: 01 vỏ phong ban đầu khi bắt quả tang đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu xanh.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/11/2024 giữa Công an huyện Phù Yên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên ).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Đinh Văn H phải chịu là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (24/12/2024).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Phù Yên; - CQĐT - CA huyện Phù Yên; - CQ hồ sơ nghiệp vụ - CA huyện Phù Yên; - Chi cục THADS huyện Phù Yên; - Trại tạm giam CA tỉnh Sơn La; - Cơ quan THAHS; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Cầm Văn Thăm |