- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Việt A - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày 03 – 7 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Văn Hồi.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo.
Họ và tên: Bùi Thị Việt A, sinh ngày 25/02/1989; Nơi sinh: tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Thôn M, xã Hòa L, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 9/12; Tiền án - Tiền sự: Không. Con ông Bùi Trung H (đã chết) và con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1960. Bị cáo có chồng là Lê Quốc H, sinh năm 1984 và có hai người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2018. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/5/2024 đến ngày 25/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1986; Bà Ngô Thị Mỹ N, sinh năm 1980; Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1945; Cùng địa chỉ: Thôn M, xã Hòa L, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt - có đơn xin vắng mặt).
Ông Lê Quốc H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn M, xã Hòa L, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền trang trải cuộc sống nên vào ngày 22/5/2024, Bùi Thị Việt A đã có hành vi bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn D, Ngô Thị Mỹ N (cùng trú tại thôn M, xã Hòa L, huyện Krông B) và một số người khác (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) trên địa bàn xã Hòa L, theo kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Trung (Đà Nẵng, Khánh Hoà), để trực tiếp được thua bằng tiền. Đến 17 giờ 40 phút cùng ngày, khi Việt A đang sử dụng điện thoại di động dò kết quả xổ số kiến thiết Đà Nẵng và Khánh Hòa để đối chiếu các số lô, số đề đã bán trong ngày và tính kết quả thắng, thua thì bị lực lượng Công an huyện Krông Bông bắt quả tang, thu giữ toàn bộ công cụ phương tiện phục vụ đánh bạc, gồm: 01 tịch đề, 01 bút bi mực màu xanh, 01 bút bi mực màu đỏ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen có gắn thẻ sim 0941.213.659 và số tiền 2.142.000 đồng liên quan việc bán số lô, số đề.
Số tiền bị cáo bán số lô, số đề theo kết quả xổ số kiến thiết Đà Nẵng là 5.449.000 đồng.
Số tiền bị can bán số lô, số đề theo kết quả xổ số kiến thiết Khánh Hòa là 81.000 đồng.
Trong các con số lô, số đề đã bán, Bùi Thị Việt A bán cho Nguyễn Văn D (thông qua tài khoản Zalo tên “Nguyễn Văn D”) các con số lô, số đề với tổng số tiền 222.000 đồng nhưng D chưa đưa tiền cho Việt A; Bùi Thị Việt A bán cho Ngô Thị Mỹ N (thông qua tài khoản Zalo tên “Ngô H”) các con số lô, số đề với tổng số tiền là 1.330.000 đồng, N đã đưa tiền cho Việt A. Các số lô, số đề khác còn lại Việt A không nhớ rõ cụ thể đã bán cho ai, ở đâu. Số tiền bị can đã thu được từ các con bạc là 2.142.000 đồng, bao gồm 1.330.000 đồng của Ngô Thị Mỹ N, số tiền còn lại là 3.388.000 đồng các con bạc chưa đưa cho bị cáo.
* Theo kết quả xổ số Đà Nẵng, trong ngày 22/5/2024 có 04 con số trúng, Việt A khoanh tròn bằng bút bi mực màu đỏ là 27x3; 73x3; 45x20; 16x7 với tổng số tiền trúng là 2.310.000 đồng (33 điểm x 70.000 đồng - không biết người nào trúng).
Tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề trong ngày 22/5/2024 theo kết quả xổ số kiến thiết Đà Nẵng, Khánh Hòa dựa trên tịch đề Việt A đã tổng hợp là 7.840.000 đồng (theo kết quả xổ số kiến thiết Đà Nẵng là 7.759.000 đồng, theo kết quả xổ số kiến thiết Khánh Hòa là 81.000 đồng), trong đó 5.530.000 đồng tiền bán số lô, số đề và 2.310.000 đồng tiền trúng.
* Cách thức đánh bạc của Bùi Thị Việt A với những người chơi như sau:
- Đánh bao lô: Người chơi mua con số có 02 chữ số để đối chiếu với hai chữ số cuối các giải từ giải tám đến giải đặc biệt. Mỗi điểm đánh là 14.000 đồng, nếu trúng thì chung 70.000 đồng/01 điểm.
- Đánh đầu đuôi: Người chơi mua con số có 02 chữ số để đối chiếu với giải tám (gọi là đầu) và đối chiếu hai số cuối giải đặc biệt (gọi là đuôi). Mỗi điểm đánh là 1.000 đồng, nếu trúng thì chung 70.000 đồng/01 điểm.
- Đánh giải đặc biệt: Người chơi mua con số có 03 chữ số để đối chiếu ba số cuối giải đặc biệt. Mỗi điểm đánh là 1.000đ, nếu trúng thì chung 300.000 đồng/01 điểm.
Tại kết luận giám định số 786 ngày 11/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chữ viết trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 (tịch đề thu giữ của Bùi Thị Việt A) so với chữ viết mang tên Bùi Thị Việt A trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người viết ra.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị can phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự nguyện nộp lại số tiền liên quan đến việc đánh bạc.
Tại quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 21/QĐ-VKS-HS ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông truy tố bị cáo Bùi Thị Việt A về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, đúng như nội dung quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông đã công bố tại phiên tòa. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, bị cáo sử dụng để nhắn tin đánh đề, hiện đang bị tạm giữ là tài sản của bị cáo, hàng ngày cho con sử dụng để phục vụ cho việc học tập nên mong muốn được HĐXX xem xét trả lại cho bị cáo để sử dụng, bị cáo chấp nhận nộp số tiền theo Hội đồng định giá tài sản kết luận là 1.600.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Thị Việt A phạm tội: “Đánh bạc”. Đề nghị HĐXX:
[1] Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Thị Việt A từ 07 (bảy) tháng đến 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 23/5/2024 đến 25/5/2024.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ vì bị cáo đều được chính quyền địa phương xác nhận gia đình đang thực tế gặp khó khăn về kinh tế, không có việc làm ổn định và đang nuôi con nhỏ.
[2] Về vật chứng thu được và đề nghị xử lý: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
+ Số tiền 7.840.000 đồng gồm: 2.142.000 đồng thu giữ của bị can Việt A trong quá trình bắt quả tang; 5.476.000 đồng bị can Việt A tự nguyện giao nộp liên quan tiền đánh bạc và 222.000 đồng do Nguyễn Văn D tự nguyện giao nộp liên quan việc mua số lô, số đề với Việt A trong ngày 22/5/2024.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 của bị cáo dùng vào việc ghi số đề. Bị cáo có nguyện vọng muốn được nộp số tiền giá trị của chiếc điện thoại nêu trên và muốn được nhận lại chiếc điện thoại, đề nghị HĐXX xem xét.
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bút bi mực màu xanh; 01 (một) bút bi mực màu đỏ; 01 (một) sim số điện thoại 0941.213.659 do Bùi Thị Việt A dùng vào việc phạm tội, hiện nay không còn giá trị sử dụng.
- Đề nghị lưu vào hồ sơ vụ án: 01 tịch đề thu giữ trong quá trình bắt quả tang.
Trong vụ án này:
- Đối với Nguyễn Văn D và Ngô Thị Mỹ N có hành vi đánh bạc với Bùi Thị Việt A. Tuy nhiên, hành vi của D và N chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 11/6/2024, Công an huyện Krông Bông đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn D và Ngô Thị Mỹ N là có căn cứ.
- Đối với bà Nguyễn Thị Q và anh Lê Quốc H, không biết bị cáo A sử dụng nhà mình để làm địa điểm ghi số đề nên không xử lý là phù hợp.
- Đối với một số người không rõ nhân thân, lý lịch, có hành vi ghi số đề với bị cáo A vào ngày 22/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng: bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Bông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Bùi Thị Việt A có đủ năng lực hành vi và hoàn toàn đủ năng lực pháp luật để nhận thức được việc làm của mình, bị cáo phải biết được việc đánh bạc với bất kỳ hình thức nào cũng đều là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật xử lý. Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường các quy định về quản lý đánh bạc của Nhà nước, mục đích tư lợi cá nhân: Do muốn có tiền trang trải cuộc sống nên vào ngày 22/5/2024, bị cáo đã có hành vi bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn D, Ngô Thị Mỹ N và một số người khác (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) trên địa bàn xã Hòa L, theo kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Trung (Đà Nẵng, Khánh Hòa), để trực tiếp được thua bằng tiền. Đến 17 giờ 40 phút cùng ngày, khi bị cáo đang sử dụng điện thoại di động dò kết quả xổ số kiến thiết Đà Nẵng và Khánh Hòa để đối chiếu các số lô, số đề đã bán trong ngày và tính kết quả thắng, thua thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền bị cáo đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề trong ngày 22/5/2024 theo kết quả xổ số kiến thiết Đà Nẵng, Khánh Hòa là 7.840.000 đồng (theo kết quả xổ số kiến thiết Đà Nẵng là 7.759.000 đồng, theo kết quả xổ số kiến thiết Khánh Hòa là 81.000 đồng), trong đó 5.530.000 đồng tiền bán số lô, số đề và 2.310.000 đồng tiền trúng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đánh giá tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn thực tế khách quan. Hội đồng xét xử xét thấy quyết định truy tố bị cáo Bùi Thị Việt A về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, quy định:
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc đưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tệ nạn xã hội, xâm hại đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội và có thể là mầm mống của các loại vi phạm pháp luật khác, chỉ vì đam mê được thua bằng tiền nên hành vi đánh bạc đã gây ra nhiều mâu thuẫn trong xã hội, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình và để lại nhiều hệ lụy xấu cho xã hội. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, cần phải xét xử và áp dụng mức án phù hợp là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo, mục đích răn đe riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã tự nguyện nộp lại số tiền liên quan đến việc đánh bạc, gia đình có hoàn cảnh khó khăn đang nuôi con nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo tương ứng các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng là phù hợp, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần phải cách ly với xã hội mà cho bị cáo được hưởng cải tạo không giam giữ, để bị cáo tự cải tạo tại chỗ, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình là phù hợp. Như vậy cũng đảm bảo được việc cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời việc cho bị cáo được hưởng cải tạo không giam giữ không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.
Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Bị cáo Bùi Thị Việt A được chính quyền địa phương xác nhận đang thực tế gặp khó khăn về kinh tế, không có việc làm ổn định và đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Số tiền 7.840.000 đồng, gồm: 2.142.000 đồng thu giữ của bị cáo Việt A trong quá trình bắt quả tang; 5.476.000 đồng bị cáo tự nguyện giao nộp liên quan tiền đánh bạc và 222.000 đồng do Nguyễn Văn D tự nguyện giao nộp liên quan việc mua số lô, số đề với Việt Anh trong ngày 22/5/2024. Cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 của bị cáo Việt A dùng vào việc ghi số đề. Tại phiên tòa, bị cáo muốn được được nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 1.600.000 đồng là giá trị chiếc điện thoại OPPO A55 theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản và mong muốn được nhận lại chiếc điện thoại để sử dụng vì đó là vật kỷ niệm chồng bị cáo cho tiền để mua. HĐXX xét thấy nguyện vọng của bị cáo là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
- 01 (một) bút bi mực màu xanh; 01 (một) bút bi mực màu đỏ; 01 (một) sim số điện thoại 0941.213.659. Là công cụ dùng vào việc đánh bạc, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 tịch đề thu giữ trong quá trình bắt quả tang, cần tiếp tục lưu giữ vào hồ sơ vụ án.
Đối với Nguyễn Văn D và Ngô Thị Mỹ N có hành vi đánh bạc với Bùi Thị Việt A. Tuy nhiên, hành vi của D và N chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 11/6/2024, Công an huyện Krông Bông đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn D và Ngô Thị Mỹ N là phù hợp.
Xét thấy quan điểm đường lối xử lý vụ án và đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên HĐXX cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Bùi Thị Việt Anh phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 321 Bộ luật hình sự; Điều 260 và Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Việt A phạm tội: “Đánh bạc”.
[1] Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Thị Việt A 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời hạn đã bị tạm giữ từ ngày 23/5/2024 đến ngày 25/5/2024 là 09 ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại buộc bị cáo phải chấp hành là 07 (bảy) tháng 21 (hai mốt) ngày. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Bùi Thị Việt A cho Ủy ban nhân dân xã Hòa L, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk, là nơi bị cáo thường trú, để giám sát và giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
[2] Không áp dụng hình phạt bổ sung và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Bùi Thị Việt A trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
3.1. Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 (một) tịch đề thu giữ trong quá trình bắt quả tang, do Bùi Thị Việt A ghi số lô, số đề trong ngày 22/5/2024.
3.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- Số tiền 7.840.000 đồng gồm: 2.142.000 đồng thu giữ của bị cáo Việt A trong quá trình bắt quả tang; 5.476.000 đồng bị cáo tự nguyện giao nộp liên quan tiền đánh bạc và 222.000 đồng do Nguyễn Văn D tự nguyện giao nộp liên quan việc mua số lô, số đề với Việt A trong ngày 22/5/2024. Cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Số tiền 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) là giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 của bị cáo dùng để ghi số đề. Chấp nhận bị cáo Bùi Thị Việt A tự nguyện chịu trách nhiệm nộp số tiền trên. Tiếp tục tạm giữ chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A55 của để bảo đảm thi hành án. Sau khi Bùi Thị Việt A nộp đủ số tiền 1.600.000 đồng, Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Bông thực hiện việc trả chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 cho Bùi Thị Việt A. Trường hợp Bùi Thị Việt A không nộp tiền, Chị cục thi hành án dân sự huyện Krông Bông tịch thu chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 để nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
3.3 Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bút bi mực màu xanh; 01 (một) bút bi mực màu đỏ; 01 (một) sim số điện thoại 0941.213.659. Là công cụ dùng vào việc đánh bạc và không còn giá trị sử dụng.
(Về đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Bông và Chi cục THA dân sự huyện Krông Bông đã mô tả cụ thể, ghi ngày 27/6/2024 và biên lai thu tiền số 0002109 ngày 26/6/2024).
[4] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bùi Thị Việt A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (có mặt) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Vụ GĐ kiểm tra I – TAND Tối cao; - Sở Tư pháp Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Bông (02 bản); - Phòng PV 06 CA tỉnh Đắk Lắk; - Đội Điều tra CA H Krông Bông; - Cơ quan THA HS CA H Krông Bông; - Chi cục THA Dân sự; - UBND xã Hòa L; - Bị cáo; đương sự; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Văn Hồi |