- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Mỹ Hậu- Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị Mỹ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 18/2024/HS-ST Ngày: 02/04/2024 |
HUYỆN ĐƠN DƯƠNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Minh Dũng. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung. 2. Bà Nguyễn Thị Thùy Hương. - Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mỹ Dung; Thư ký Toà án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Lợi, Kiểm sát viên. Ngày 02/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2024/HSST ngày 14/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HS ngày 20/3/2024, đối với bị cáo: Họ và tên: Trần Thị Mỹ H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; sinh ngày 11/9/2001, tại Phú Yên; Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ' N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Tạm trú: Phòng trọ chú T, sân H, thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Con ông Trần Kim L, sinh năm 1977, hiện ở T, Phú Yên và con bà Lâm Kim L1, sinh 1975, hiện ở thôn Đ, xã Đ' Nớ, huyện L, Lâm Đồng; Chị, em ruột: Có 03 người, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2008, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Chồng: không có; Con: có 02 người lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 24/12/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, tại trước sân bóng H thuộc thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, Công an huyện Đ bắt quả tang Trần Thị Mỹ H, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý trong túi áo khoác màu đen bên trái H đang mặc trên người, thu giữ 01 (một) gói nylon kích thước 6,5cm x 4,2cm là ma tuý được H bỏ trong gói thuốc lá hiệu "Seven Diamonds". Qua làm việc, Trần Thị Mỹ H khai nhận số ma tuý trên là do H được người chị tên là M (không rõ tên tuổi,
địa chỉ cụ thể) cho để sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và niêm phong số tang vật trên. Tại kết luận giám định số: 1587/KL – KTHS, ngày 21/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh L xác định mẫu tinh thể đựng trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,2100g, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ Cáo trạng số 19/CT-VKSĐD ngày 14/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương truy tố bị can Trần Thị Mỹ H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Mỹ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ H từ 30 đến 36 tháng tù. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bao gói vật chứng và số ma túy còn lại sau giám định. Bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận: Bị cáo sử dụng ma túy đá từ đầu năm 2023. Mỗi tháng sử dụng một đến hai lần, hình thức sử dụng là hút. Bị cáo H được người chị tên là M ở Q (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) cho ma túy để sử dụng. Bị cáo bỏ ma túy trong gói thuốc lá hiệu "Seven Diamonds" rồi cất giấu trong túi áo khoác. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, bị cáo đi đến trước sân bóng Hồ Bo thuộc thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, thì bị Công an huyện Đ bắt quả tang. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về nội dung vụ án: Vào ngày 15/12/2023, tại thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, Trần Thị Mỹ H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý có khối lượng 2,2100g, loại Methamphetamine là vi phạm pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Thị Mỹ H khai nhận việc tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với kết luận giám định, biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 2,2100g loại Methamphetamine của Trần Thị Mỹ H nêu trên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [3] Đánh giá tính chất vụ án: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy được tác hại của ma túy ảnh hưởng đến sức khỏe và cũng là nguyên nhân gây ra các bất ổn xã hội khác nhưng vì nhu cầu cá nhân nên bị cáo tàng trữ để sử dụng. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng. Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội khi đang mang thai nên áp dụng điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo. [5] Về quyết định hình phạt: Bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo không tự cai nghiện mà tiếp tục tàng trữ để sử dụng ma túy. Tình hình sử dụng ma túy hiện nay gia tăng, gây bất ổn xã hội. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. [6] Đối với người phụ nữ tên M cho H ma tuý hiện không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tách ra điều tra xử lý sau. [7] Về vật chứng: Đối với bao gói vật chứng và khối lượng 1,8898g Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định là tang vật vụ án nên tịch thu tiêu hủy. [8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Mỹ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 15/12/2023 đến ngày 24/12/2023 vào thời gian chấp hành án. 2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói vật chứng trước giám định được niêm phong và 1,8898g Methamphetamine. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương. 3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trần Thị Mỹ H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đơn Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - Công an huyện Đơn Dương; - Thi hành án huyện Đơn Dương; - Bị cáo; Phan Minh Dũng - Lưu HS; THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |