vanban.org

Bản án 18/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn Kh. Về con chung: giao con Đỗ Phương H, sinh ngày 22/7/2021 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Anh Đỗ Văn Kh không phải cấp dưỡng cho con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H:
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05-3-2024
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hiền

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Cường

Bà Hồ Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Kim Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 396/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/01/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07/02/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1986; nơi cư trú: khu Giếng Mụi, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn Kh, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ 7, khu 4, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Văn Kh tự nguyện kết hôn ngày 19/7/2021 tại UBND phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống cùng bố mẹ chồng tại tổ 7, khu 4, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Vợ chồng chị chung sống được khoảng 01 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 08/2021, vợ chồng chị sống ly thân, chị đưa con về nhà mẹ đẻ ở thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh sinh sống, vợ chồng chị không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được hai bên gia đình nội ngoại hòa giải nhưng không có kết quả. Đến nay, chị xác nhận không còn tình cảm với anh Kh, mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với Khương.

Về con chung: Chị và anh Kh có một con chung là cháu Đỗ Phương Hằng, sinh ngày 22/7/2021. Chị đang là người trực tiếp chăm sóc cháu Hằng. Khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Biên bản xác minh ngày 17/01/2024, ông Lê Ngọc Giao (tổ trưởng tổ 7, khu 4, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) cung cấp thông tin: Anh Đỗ Văn Kh và chị Nguyễn Thị H là vợ chồng sinh sống tại tổ 7, khu 4, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long. Vợ chồng anh Kh, chị H có 01 con chung. Quá trình sinh sống, vợ chồng anh Kh, chị H có xảy ra mâu thuẫn, xô xát với nhau. Sau đó, chị H và con chung chuyển đi nơi khác ở, từ đó đến nay không quay về địa phương nữa. Việc chị H khởi kiện ly hôn và đề nghị nuôi con chung, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

Biên bản xác minh ngày 17/01/2024, ông Đỗ Văn Khơ (bố của anh Đỗ Văn Kh) cung cấp nội dung: Anh Đỗ Văn Kh và chị Nguyễn Thị H kết hôn năm 2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh Kh chung sống cùng gia đình ông Khơ tại tổ 7, khu 4, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long. Quá trình chung sống, vợ chồng anh Kh thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Chị H và con chung là cháu Đỗ Phương H(sinh năm 2021) đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở Quảng Yên sinh sống. Mâu thuẫn của vợ chồng anh Kh đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Việc chị H khởi kiện ly hôn, nuôi con chung gia đình ông và anh Kh đều biết. Ông là người nhận các văn bản của Toà án và đã giao lại cho anh Kh. Tuy nhiên, do anh Kh bận công việc nên không đến Toà án giải quyết được.

Tại Xác nhận thông tin về cư trú ngày 23/01/2024 của Công an phường Cộng Hoà xác nhận nơi ở hiện tại của chị Nguyễn Thị H là khu Giếng Mụi, phường Cộng Hoà, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đỗ Văn Kh đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập của Tòa án, nhưng không đến làm việc cũng như không có quan điểm giải quyết vụ án.

Ngày 24/01/2024, Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Anh Kh vắng mặt, chị H có đơn từ chối hòa giải và yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.

Tại phiên tòa, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, quan điểm đã trình bày như trên. Anh Kh vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đầy đủ đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự

Về nội dung: căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc ly hôn với anh Kh. Giao con Đỗ Phương H cho chị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Anh Kh không phải cấp dưỡng cho con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền: nguyên đơn chị Nguyễn Thị H khởi kiện “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn anh Đỗ Văn Kh, có địa chỉ tại phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, nên Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long có thẩm quyền giải quyết theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh Đỗ Văn Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Văn Kh tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 19/7/2021 tại UBND phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, nên xác định quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H chung sống hạnh phúc được khoảng 01 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 08/2021, vợ chồng chị H sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng chị H được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Quá trình giải quyết vụ án, anh Kh không đến Tòa cũng như không có quan điểm giải quyết thể hiện anh Kh không muốn hàn gắn với chị H. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị H và anh Kh là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận cho chị H được ly hôn anh Kh.

Về con chung: quá trình chung sống, chị H và anh Kh có 01 con chung là cháu Đỗ Phương Hằng, sinh ngày 22/7/2021. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi con, không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng cho con. Xét yêu cầu của chị H thấy: sau khi hai vợ chồng ly thân, chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Mặt khác, cháu Hằng sinh ngày 22/7/2021, thời điểm giải quyết vụ án cháu dưới 36 tháng tuổi, căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao con chung cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Anh Kh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí dân sự sơ thẩm: nguyên đơn chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn Kh.

2. Về con chung: giao con Đỗ Phương H, sinh ngày 22/7/2021 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Anh Đỗ Văn Kh không phải cấp dưỡng cho con.

Anh Kh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị H cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000349 ngày 21/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Chị H đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thành phố Hạ Long;

- Chi cục THADS thành phố Hạ Long;

- UBND phường Bãi Cháy (nơi ĐKKH).

- TAND,VKSND tỉnh Quảng Ninh;

- Lưu hồ sơ, VP.

Lê Thị Thu Hiền

Cỡ chữ