- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen Thi Xuan M"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24/01/2024 V/v "Tranh chấp ly hôn " |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông!Võ Bảo Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Bé
Bà Phạm Thị Hồng Thắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông
Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn!Thị!Xuân!M, sinh năm 1988
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Lee!S, sinh năm 1967
Địa chỉ: Số A S-ki, Ancheon-myeon, Jinan-gun, J-do, Hàn Quốc.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn
Thị Xuân M trình bày và yêu cầu:
Bà quen biết ông Lee S qua mai mối, quá trình tìm hiểu, bà và ông Lee S tự
nguyện kết hôn tại Hàn Quốc ngày 18/01/2010 và có ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn tại Sở tư pháp thành phố Cần Thơ (theo Trích lục ghi chú kết hôn bản sao số 330/TLGCKH-BS ngày 09/7/2018). Sau khi kết hôn, bà và ông Lee S chung sống hạnh phúc được một năm tại Hàn Quốc thì bà bỏ về Việt Nam vì bất đồng ngôn ngữ, không có tiếng nói chung. Từ khi bà về Việt Nam cho đến nay, giữa bà và ông Lee S không còn liên lạc được với nhau. Do không còn liên hệ với nhau trong khoảng thời gian quá dài, thiết nghĩa nếu kéo dài cuộc hôn nhân mà bà và ông Lee S ở hai quốc gia cũng không có được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Nên bà yêu cầu xin được ly hôn với ông Lee S.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: bà cho rằng không có nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Lee S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án
không thu thập được ý kiến của ông.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên
tòa: những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: giữa nguyên đơn và bị đơn sinh sống ở hai quốc gia khác nhau, không có sự quan tâm, chia sẻ, điều kiện giúp đỡ lẫn nhau, không thể hòa giải, hàn gắn được. Hôn nhân giữa hai người chỉ còn tồn tại về mặt pháp lý, không tồn tại trên thực tế, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn xin ly hôn theo pháp luật Việt Nam là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét
tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Xuân M khởi kiện xin ly hôn với ông
Lee S cư trú tại Hàn Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị Xuân M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Lee S đã
được Tòa án tống đạt thông báo hợp lệ về thời gian mở phiên tòa nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Xuân M và ông Lee S chung sống
với nhau, có đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc và được ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn tại Sở tư pháp thành phố Cần Thơ theo Trích lục ghi chú kết hôn số 330/TLGCKH_BS ngày 09/7/2018 (bản sao) nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà Xuân M trình bày, sau khi kết hôn, bà và ông Lee S chung sống hạnh phúc được một năm tại Hàn Quốc, do bất đồng ngôn ngữ, không có tiếng nói chung nên bà bỏ về Việt Nam và không liên lạc được với ông Lee S kéo dài cho đến nay. Từ đó làm cho tình cảm giữa hai người phai nhạt nên bà xin được ly hôn.
Xét thấy, giữa bà Xuân M và ông Lee S đã có thời gian dài sống ly thân, mỗi
người sống ở một quốc gia, không quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, nên tình cảm thật sự phai nhạt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà Xuân M được ly hôn với ông Lee S là phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Xuân M trình bày không có,
không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác khi có yêu cầu.
[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác, chi phí
thông báo tố tụng, nguyên đơn phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều
153, khoản 2 Điều 227, khoản 6 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên!xử:!
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân M.
- Về hôn nhân: cho bà Nguyễn Thị Xuân M được ly hôn với ông Lee S.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Xuân M trình bày không có nên
không xem xét giải quyết.
2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Xuân M phải chịu 300.000đ, nhưng
được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm bà Xuân M đã nộp theo Biên lai thu số 0001692 ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà Xuân M đã nộp đủ tiền án phí.
3. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Xuân M phải chịu 200.000 đồng lệ phí ủy
thác tư pháp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 200.000 đồng theo Biên lai thu số 0001772 ngày 25/4/2023 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà Xuân M còn phải chịu chi phí đăng thông báo tố tụng cho ông Lee S. Bà Xuân M đã nộp đủ chi phí tố tụng.
4. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Xuân M có quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết; Ông Lee S được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!THẨM!PHÁN-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA
| Nơi nhận: ! - Đương sự; !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! - VKSND TPCT;!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!(Đã ký)! - Cục THA DS TPCT; - Sở Tư pháp TPCT; - Lưu hồ sơ vụ án!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Võ!Bảo!Anh!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! !!! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! !!! |