vanban.org

Bản án 18/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thùy T2 được ly hôn với anh Lê Văn T1.

Về con chung: Giao cháu Lê Thanh B, sinh ngày 12/10/2006 và Lê Thị Thúy V, sinh ngày 12/5/2008 cho chị Trần Thị Thùy T2 nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Lê Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T1 +T2"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thùy T2 được ly hôn với anh Lê Văn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28 – 3 – 2024
“ V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Trần Thị Thu Hà.

2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Tuyết Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long: không tham gia phiên tòa.

Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 516/2023/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QĐST – HNGĐ ngày 06/3/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Châu Thị Thùy T, sinh năm: 1986 (Có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Văn T1, sinh năm: 1982 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: ấp Đ, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Châu Thị Thùy T trình bày:

- Về mối quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 hôn nhân hình thành là do tự tìm hiểu có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 08/9/2006. Sau khi cưới chị và anh T1 sống bên gia đình anh T1. Thời gian đầu chị và anh T1 chung sống hạnh phúc đến ngày 01/02/2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cự cải, không còn hạnh phúc. Chị T và anh T1 ly thân từ ngày 01/5/2013, đến ngày 10/7/2022 vợ chồng tiếp tục sống chung, sau đó đến ngày 10/3/2023 thì vợ chồng ly thân cho đến nay.

Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T1.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Thanh B, sinh ngày 12/10/2006 và Lê Thị Thúy V, sinh ngày 12/5/2008 hiện nay đang sống chung với chị T. Khi ly hôn tùy theo nguyện vọng của con theo ai thì người đó nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung; nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bảng khai ý kiến ngày 04/12/2023 cháu B và cháu V trình bày: Khi cha mẹ ly hôn 2 cháu có nguyện vọng sống với chị T.

- Bị đơn anh Lê Văn T1 vắng mặt tại phiên Tòa không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng, không cung cấp bảng khai ý kiến về các vấn đề của nguyên đơn yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về trình tự, thủ tục tố tụng:

Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần. Căn cứ vào khoản 2, Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia phiên tòa.

[1.2] Xét thấy, nguyên đơn chị T có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 228; điểm a, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn. Xét việc bị đơn anh T1 được triệu tập hợp lệ tham dự phiên hòa giải, thông báo về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ngày giờ xét xử đến lần thứ hai, nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do. Xét thấy, có thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn; Hội đồng xét xử, quyết định xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Hội đồng xét thấy, giữa Chị T và anh T1 có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa Chị T và anh T1 có nhiều mâu thuẫn như: Vợ chồng thường hay cự cãi vì bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Chị T và anh T1 đã ly thân với nhau từ tháng 3/2023 đến nay từ đó làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Tòa án đã triệu tập anh T1 nhiều lần, để hòa giải nhằm giúp hai bên có thời gian, có cơ hội hàn gắn tình cảm, nhưng anh T1 cố tình tránh né không đến Tòa án.

Từ đó, cho thấy anh T1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử, xét thấy hôn nhân giữa Chị T và anh T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; nên chị T yêu cầu xin ly hôn với anh T1 là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị T xác định chị T và anh T1 có 02 con chung tên Lê Thanh B, sinh ngày 12/10/2006 và Lê Thị Thúy V, sinh ngày 12/5/2008. Hiện nay đang sống chung với chị T, khi ly hôn chị T có ý kiến 2 con có nguyện vọng sống chung với ai thì người đó sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng và người kia không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu B và cháu V từ nhỏ cuộc sống ổn định, phát triển bình thường, 2 cháu cũng có nguyện vọng sống với chị T. Nên giao cháu B và cháu V cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chị T không có yêu cầu cấp dưỡng nên anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết. Bị đơn anh T1 không có ý kiến phản bác nên Hội đồng đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết. Bị đơn anh T1 không có ý kiến phản bác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu số tiền án phí là: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; 228; 238 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử;

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thùy T2 được ly hôn với anh Lê Văn T1.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Thanh B, sinh ngày 12/10/2006 và Lê Thị Thúy V, sinh ngày 12/5/2008 cho chị Trần Thị Thùy T2 nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Lê Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Thùy T2 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị Trần Thị Thùy T2 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Thùy T2 phải nộp số tiền là: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về ly hôn; Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0008445, ngày 02/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm, nên chị T2 không phải nộp thêm.

Anh Lê Văn T1 không phải nộp án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ