vanban.org

Bản án 18/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn của chị Lê Kim H và anh Trần Văn Đ.

Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị Lê Kim H và anh Trần Văn Đ là giao Trần Kim H1 - sinh ngày 18/10/2009 cho anh Trần Văn Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Đồng thời, cháu H1 cũng có nguyện vọng muốn sống với anh Đ. Về cấp dưỡng nuôi con: Miễn xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Kim H- Trần Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn của chị Lê Kim H và anh Trần Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHẬN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22-3-2024
V/v: “Tranh chấp về ly hôn và yêu cầu nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Danh Út Nhỏ;

2. Ông Lê Văn Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao không tham gia phiên tòa.

Ngày 22 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 373/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/02/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Kim H - sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn Đ - sinh năm 1984 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 09/10/2023 của nguyên đơn chị Lê Kim H trình bày: Tôi và chồng tôi có tìm hiểu nhau trước được 02 tháng nên đến năm 2008 chúng tôi được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 28/8/2013.

Sau khi kết hôn chúng tôi sống hạnh phúc được khoảng hơn 01 năm thì vợ chồng tôi phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tôi không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên cãi vả và chúng tôi đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi yêu cầu tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chồng tôi là Trần Văn Đ.

Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có 01 con chung tên Trần Kim H1 - sinh ngày 18/10/2009, hiện nay con đang sống với chồng tôi nên đồng ý giao con cho anh Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và tôi không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Về hôn nhân: Tôi xin được ly hôn với chồng tôi là Trần Văn Đ.

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung tên Trần Kim H1 - sinh ngày 18/10/2009, hiện nay con đang sống với chồng tôi nên đồng ý giao con cho anh Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và tôi không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Như trình bày trên tôi không yêu cầu thêm gì.

Tại bản tự khai đề ngày 02/02/2024 bị đơn anh Trần Văn Đ trình bày: Tôi và vợ tôi có tìm hiểu nhau trước được 6 - 7 tháng nên đến năm 2008 chúng tôi được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 28/8/2013.

Sau khi kết hôn chúng tôi sống hạnh phúc được khoảng 13 năm thì vợ chồng tôi phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ tôi đi làm ở Bình Dương rồi không về nhà từ năm 2021 đến nay. Hơn nữa, trước đây vợ chồng cũng có cự cải với nhau và chúng tôi đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi đồng ý ly hôn với theo yêu cầu của vợ tôi là Lê Kim H.

Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có 01 con chung tên Trần Kim H1 - sinh ngày 18/10/2009, hiện nay con đang sống với tôi nên tôi yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và tôi không yêu cầu vợ tôi phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Về hôn nhân: Tôi xin đồng ý ly hôn theo yêu cầu của vợ tôi là Lê Kim H.

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung tên Trần Kim H1 - sinh ngày 18/10/2009, hiện nay con đang sống với tôi nên tôi yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và tôi không yêu cầu vợ tôi phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Như trình bày trên tôi không yêu cầu thêm gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Lê Kim H và anh Trần Văn Đ là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Lê Kim H là nguyên đơn và anh Trần Văn Đ là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng chị H và anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điêu 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H và anh Đ là phù hợp.

Về hôn nhân: Chị Lê Kim H và anh Trần Văn Đ kết hôn với nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 28/8/2013 cho nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Dù hôn nhân của chị Lê Kim H và anh Trần Văn Đ là hôn nhân tự nguyện, trước khi kết hôn anh chị có tìm hiểu nhau trước vì vậy khi xác lập cuộc sống chung vợ chồng thì lại bộc lộc ra những cá tính không phù hợp. Chị Lê Kim H cho rằng vợ chồng tôi không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên cãi vả còn anh Đ cho rằng chị H đi làm ở Bình Dương rồi không về nhà từ năm 2021 đến nay. Hơn nữa, trước đây vợ chồng cũng có cự cải với nhau nên anh chị xác định vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án chị Lê Kim H và anh Trần Văn Đ thống nhất thuận tình ly hôn. Do đó, HĐXX căn cứ vào Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa chị Lê Kim H và anh Trần Văn Đ.

Về con chung: Chị Lê Kim H và anh Trần Văn Đ xác định anh chị có 01 người con chung tên Trần Kim H1 - sinh ngày 18/10/2009, hiện nay cháu H1 đang sống với anh Đ nên chị H và anh Đ thống nhất thỏa thuận sau khi ly hôn giao cháu H1 cho anh Đ được tiếp tục, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Đồng thời, cháu H1 cũng có nguyện vọng muốn sống với anh Đ. Do đó, HĐXX ghi nhận việc tự nguyện thỏa thuận của chị Lê Kim H và anh Trần Văn Đ về con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Chị Lê Kim H có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở chị thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Kim H và anh Trần Văn Đ xác định anh chị không có tài sản chung và không có thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng chị Lê Kim H phải nộp do chị có yêu cầu xin ly hôn nhưng chị được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000730, ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị Lê Kim H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn của chị Lê Kim H và anh Trần Văn Đ.

2. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị Lê Kim H và anh Trần Văn Đ là giao Trần Kim H1 - sinh ngày 18/10/2009 cho anh Trần Văn Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Đồng thời, cháu H1 cũng có nguyện vọng muốn sống với anh Đ.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Miễn xét.

Chị Lê Kim H có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở chị thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

4. Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng chị Lê Kim H phải nộp do chị có yêu cầu xin ly hôn nhưng chị được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000730, ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị Lê Kim H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 22/3/2024.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ