- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Khả V-Nguyễn Quốc S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyễn Quốc S.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 18/2024/HNGĐ-PT Ngày: 07 - 8 - 2024 V/v Tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Cẩm Đào
Các Thẩm phán:
Bà Châu Minh Hoàng
Bà Hoàng Thị Hải Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thuý An, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 20/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn”.
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 91/2024/HNGĐ -ST ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Khả V, sinh năm 2000 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp N, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc S, sinh năm 1998 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp X, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Anh Nguyễn Quốc S là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Huỳnh Khả V trình bày: Chị và anh Nguyễn Quốc S chung sống với nhau vào năm 2020, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ. Vợ chồng có thời gian sống hạnh phúc và sinh được cháu Nguyễn Huỳnh Đình P, sinh ngày 17/12/2021, thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến ly thân. Hiện tại chị không còn yêu thương anh S nên xin được ly hôn, tiếp tục nuôi con, yêu cầu anh S cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 đồng. Thời gian chung sống vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung.
Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 91/2024/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ, quyết định:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Khả V. Cho chị Huỳnh Khả V được ly hôn với anh Nguyễn Quốc S.
2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Khả V, giao cháu Nguyễn Huỳnh Đình P, sinh ngày 17/12/2021 cho chị Huỳnh Khả V tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Buộc anh Nguyễn Quốc S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Huỳnh Đình P mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án (10/4/2024) đến khi cháu Phúc đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Quốc S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 22/4/2024, anh Nguyễn Quốc S có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, anh yêu cầu được nuôi con, không đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.
Tại phiên toà phúc thẩm: Anh Sử giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phần tranh luận:
Anh S tranh luận: Anh yêu cầu được nuôi con hoặc anh chỉ đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con là 2.500.000 đồng/tháng.
Chị V tranh luận: Chị đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.500.000 đồng/tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Tại phiên toà các đương sự thỏa thuận được về việc cấp dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm theo thoả thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Chị V khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu được nuôi con chung, yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000 đồng. Án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V nên anh S kháng cáo.
Xét kháng cáo của anh S, Hội đồng xét xử xét thấy:
Chị V yêu cầu xin ly hôn với anh S. Án sơ thẩm chấp nhận cho anh chị được ly hôn, anh chị không kháng cáo nên phần hôn nhân có hiệu lực pháp luật.
Anh S kháng cáo phần con chung và cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên toà phúc thẩm, anh S đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000 đồng, chị V đồng ý mức cấp dưỡng như anh S đặt ra. Xét thấy, các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, đây là sự tự nguyện của các đương sự phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự.
Từ những phân tích trên ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Cà Mau là phù hợp.
Án phí dân sự phúc thẩm: anh S không phải chịu, có nộp tạm ứng 300.000 đồng được nhận lại.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyễn Quốc S.
Sửa một phần bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 91/2024/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Khả V.
1. Về hôn nhân: Chị Huỳnh Khả V được ly hôn với anh Nguyễn Quốc S.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huỳnh Đình Phúc, sinh ngày 17/12/2021 cho chị Huỳnh Khả V tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Buộc anh Nguyễn Quốc S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Huỳnh Đình P mỗi tháng 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án (10/4/2024) đến khi cháu Phúc đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Quốc S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị V cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng anh S phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3. Về án phí:
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Huỳnh Khả V phải chịu 300.000 đồng. Chị V đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0000791 ngày 28/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, được chuyển thu.
- Án phí cấp dưỡng nuôi con: anh Nguyễn Quốc S phải chịu là 300.000 đồng (chưa nộp).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Anh S không phải chịu. Ngày 26 tháng 4 năm 2024, anh S đã nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng (lai thu số 0001113) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ được nhận lại.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT(TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Cẩm Đào |