vanban.org

Bản án 18/2024/HNGĐ-PT — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 12/04/2024 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/04/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Nh và anh Trần Văn N.

Về chia tài sản chung và nghĩa vụ nợ chung: 1. Chia cho chị Nguyễn Thị Nh đ ợc quyền s dụng th a đất số 372, tờ bản đồ số 9, diện tích 128m2 địa ch : óm 3, ã Hải Tây, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định. Đất đã đ ợc UBND huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền s dụng số W847037 ngày 28/6/2004 mang tên Nguy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Nh - Trần Văn N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Nh và anh Trần Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân s; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân s; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân s
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HNGĐ-PT
Ngày 12-4-2024
V/v Ly hôn, chia tài sản chung
khi ly hôn giữa chị Nh và anh N

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành ph n H i đ ng t phúc th m g m c :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Dũng

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Thành Công

Ông Lại Văn Tùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Giang - Th ký Tòa án nhân dân t nh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Ph ơng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân t nh Nam Định t

ph c th m công khai vụ án thụ lý số 07/2023/TLPT-HNGĐ ngày 20-10-2023 về ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn.

Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ th m số 226/2023/HNGĐ-ST ngày 28-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, t nh Nam Định bị kháng cáo.

Theo Quyết định đ a vụ án ra t số 127/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 01 năm 2024, giữa các đ ơng s :

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1979

Nơi th ờng tr : Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Nh: Luật s Lại Thị Kim A - Công ty Luật TNHH Vũ - Trình thuộc đoàn luật s thành phố Hà Nội

- Bị đơn: Anh Trần Văn N, sinh năm 1973

Nơi th ờng tr : Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh N: Luật s Lại Huy P - Văn phòng Luật s Huy Phát thuộc đoàn luật s thành phố Hà Nội

- Người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh Cồn - Hải Hậu, t nh Nam Định; địa ch : Khu 4B, thị trấn Cồn, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định;

Ng ời đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V ợng - Tổng giám đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Ng ời đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Quang Hùng; chức vụ: Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh Cồn - Hải Hậu

2. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1953; địa ch : Xóm Trung Đông, ã Hải Đông, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định

3. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; địa ch : Xóm Trần Ph , ã Hải Đông, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định

4. Anh Trần Văn Ch, sinh năm 1974

5. Anh Trần Văn G, sinh năm 1980

6. Chị Lại Thị R, sinh năm 1983

7. Ông Trần Văn Th, sinh năm 1960

8. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1971

9. Bà Trần Thị Ch, sinh năm 1942

Đều tr tại: Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định

- Người háng cáo: Anh Trần Văn N là bị đơn trong vụ án

Tại phiên toà ph c th m: Có mặt chị Nguyễn Thị Nh, anh Trần Văn N, luật s Lại Thị Kim A, luật s Lại Huy P; ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn V, anh Trần Văn Ch, anh Trần Văn G, ông Trần Văn Th, chị Nguyễn Thị P, chị Lại Thị R.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn hởi iện ngày 03/02/2023 và các lời hai trong quá trình tố tụng của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Nh trình bày:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nh và anh Trần Văn N đăng ký kết hôn vào ngày 03/01/1998 tại Ủy ban nhân dân ã Hải Tây, huyện Hải Hậu trên cơ sở t nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh ph c đến tháng 5/2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và bắt đầu sống ly thân. Nguyên nhân do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, vợ chồng chung sống không có tiếng nói chung, anh N không tin t ởng chị nên luôn cãi ch i nhau, anh N th ờng uyên có lời lẽ c phạm chị. Do cuộc sống vợ chồng căng thẳng nên chị và các con đã phải thuê nhà ra ở riêng để mong anh N suy nghĩ lại nh ng anh N không thay đổi. Nay chị Nh ác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đ ợc, nên chị Nh đề nghị Tòa án cho ly hôn với anh N.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Văn Hà, sinh năm 1999 và Trần Thị Hải, sinh năm 2004; cháu Hà đã ây d ng gia đình nh ng ch a có chỗ ở riêng, mẹ con bà cháu đang phải thuê nhà ở riêng, cháu Hải đang học đại học, tuy nhiên các con đã đến tuổi thành niên nên chị Nh không yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản và nghĩa vụ chung về tài sản:

Về công trình ây d ng trên đất và nguồn tiền ây d ng: Vợ chồng có ây đ ợc một ngôi nhà hai tầng và một số công trình phụ khác ây d ng năm 2007 không tính toán đ ợc vì thời gian đã lâu. Nguồn gốc tiền làm nhà do bố mẹ đẻ chị Nh cho vợ chồng vay một ít, tiền của vợ chồng tích góp và vợ chồng có nhờ bố mẹ đẻ chị vay gi p anh em nhà, sau này vợ chồng trả dần. Về việc vay nợ làm nhà cụ thể bao nhiêu chị Nh không nhớ hết vì thời gian đã lâu, khi ây nhà vợ chồng cùng đứng lên thuê thợ ây d ng, mua vật liệu và trả tiền công thợ, chị Nh và anh N là ng ời tr c tiếp chi trả số tiền làm nhà, vợ chồng cùng bàn bạc thống nhất hết nên không ghi lại cụ thể, thời gian đã lâu nên chị Nh không còn giấy tờ tài liệu nào ghi lại. Tiền s a chữa và ây thêm mới nhà và công trình năm 2018 hết khoảng 260.000.000đ và các khoản chi tiêu khác, cộng tổng hết gần 300.000.000đ. Nguồn tiền vợ chồng s a chữa nhà và ây thêm mới một số công trình trên đất là do vợ chồng r t đ ợc hội vàng do bà Ph ợng làm chủ và tiền, vàng bố mẹ đẻ chị vay hộ. Năm 2019 r t ph ờng vàng ông Thừa làm chủ hội để trả nợ vay s a nhà năm 2018. Sau này ây s a mới chuồng trại chăn nuôi, mua cây anh và quật lập v ờn ruộng chăn nuôi thả cá và chi phí c ới con, tặng ph m cho con khi c ới, mua sắm dụng cụ sinh hoạt gia đình, đóng hội vàng r t tr ớc lấy tiền ây s a nhà thì vay của vợ chồng anh Giang, chị R , vay của chị Hoa và vay của Ngân hàng.

Về dụng cụ sinh hoạt: 01 bộ bàn ghế sa lông lan giá trị còn lại là 23.000.000 đồng; 01 tủ lạnh, 01 máy giặt đều nhãn hiệu Toshiba đã cũ, các đ ơng s không đề nghị định giá.

Về quyền s dụng đất: Vợ chồng chị Nh, anh N có các th a đất đều do nhận chuyển nh ợng mua bán mà có: Th a thứ nhất: Th a đất số 372, tờ bản đồ số 9, diện tích 128m2, địa ch : óm 3, ã Hải Tây, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định, giá đất là 17.000.000đồng/m2, tổng giá trị th a đất 2.176.000.000đồng.

Th a thứ hai: Th a đất số 201, tờ bản đồ số 3, diện tích 300m2 trong đó: (đất ở 170m2, đất nuôi trồng thủy sản 70m2, đất trồng cây lâu năm 60m2). Trên đất này có nhà hai tầng và các công trình ây d ng trên đất ( ây d ng 2007, s a chữa ây mới năm 2018). Giá đất 700.000đồng/m2. Giá trị th a đất là 210.000.000 đồng tại Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định.

Th a thứ ba: Th a đất ruộng cạnh thổ số 200 tờ bản đồ số 3, diện tích 327m2 tại Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định; Giá đất 50.000đồng/m2; trị giá th a đất là 16.350.000 đồng. Chuồng chăn nuôi gia s c giá trị còn lại là 10.867.000 đồng.

Về nghĩa vụ nợ chung: Vợ chồng chị Nh, anh N còn nợ các khoản nợ sau: Nợ ph ờng vàng do bà Nguyễn Thị P làm chủ hội là 15 ch vàng 24K. Ph ờng gồm 17 ng ời tham gia, bắt đầu từ ngày 30/5/2017, mỗi năm góp 2 lần, mỗi lần góp 2 ch vàng 24K, ng ời r t tr ớc phải trả lãi ph ờng là 0,5 ch vàng/lần góp hội. Vợ chồng tham gia một suất, mỗi lần góp 2 ch vàng và đã r t thứ 3 vào năm 2018 về s a nhà. Đến nay còn 06 ng ời ch a r t t ơng đ ơng 15 ch vàng 24K.

Nợ ph ờng vàng do ông Trần Văn Th làm chủ ph ờng 05 ch vàng 24K. Ph ờng gồm 11 ng ời tham gia, bắt đầu từ ngày 10/6/2018, mỗi năm góp 2 lần, mỗi lần góp 2 ch vàng 24K, ng ời r t tr ớc phải trả lãi ph ờng là 0,5 ch vàng/lần góp hội. Vợ chồng tham gia 02 suất (trong đó 01 suất tham gia hộ bạn anh N) mỗi lần góp 2 ch vàng 24K và đã r t thứ 3 vào tháng 6 năm 2019 về trả tiền vay s a nhà và làm thêm công trình ây d ng mới năm 2018. Đến nay còn 02 ng ời ch a r t t ơng đ ơng 05 ch vàng 24K.

Nợ anh Trần Văn Ch 13 ch vàng 24K vào năm 2018, vay để trả tiền nguyên vật liệu s a nhà và đóng hội.

Nợ của vợ chồng anh Trần Văn G, chị Lại Thị R (là cháu họ của anh N) 05 ch vàng 24K. Vay vào tháng 6 năm 2022 để đóng hội và trả lãi ngân hàng.

Nợ của chị Nguyễn Thị H 01 ch vàng vào tháng 1/2022 để chi tiêu đình đám; tháng 4/2022 vay 5.000.000đồng để mua máy bơm n ớc.

Cầm của bà Trần Thị Ch số tiền 15.000.000đồng do năm 2021 bà Chuyên (mẹ anh N) có nhờ vợ chồng giữ hộ số tiền này cho bà để sau này bà d ỡng già.

Nợ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn - chi nhánh Cồn Nam Định số tiền nợ gốc 170.000.000đ (một trăm bảy m ơi triệu đồng); Tiền lãi từ tháng 12 năm 2022 đến tháng 18/8/2023 anh N trả.

Những lần vay tài sản trên chị Nh đều bàn bạc với anh N và hai bên thống nhất để chị Nh là ng ời đứng lên hỏi vay và nhận tiền vay, mục đích các khoản vay trên để vợ chồng trả nợ tiền làm nhà, s a chữa nhà ây d ng một số công trình chăn nuôi, chi tiêu gia đình và đóng hội s dụng chung cho gia đình nh chị Nh đã trình bày ở trên. Vì vay nợ ng ời thân gia đình nên khi vay các bên không viết giấy tờ gì.

Ngoài ra vợ chồng không có nghề nghiệp ổn định, chị Nh làm ruộng, anh N làm thợ ây theo ng ời ta l c có việc, l c không có việc nên chi tiêu gia đình rất t ng thiếu, con cái ăn học vì vậy mỗi khi gia đình t ng thiếu không có tiền tiêu, không vay nợ đ ợc ai ng ời ngoài thì chị Nh lại phải đến vay của bố mẹ đẻ chị Nh để hỏi vay nhờ bố mẹ gi p đỡ lo toan việc gia đình. Tổng số nợ đến nay còn nợ bố mẹ đẻ chị Nh là 26,5 ch vàng 24K vay để chi tiêu gia đình, đóng hội, chi tiêu c ới con. Nay anh N chối bỏ trách nhiệm trả nợ chung vì ông Viễn là bố đẻ chị Nh nên chị Nh xin rút yêu cầu đ a khoản nợ này vào nợ chung vợ chồng và chị t có trách nhiệm trả nợ cho bố mẹ chị và không yêu cầu Tòa án giải quyết khoản nợ này nữa.

Trong quá trình tố tụng tại Tòa án anh N có khai đi uất kh u lao động tại Đài Loan từ năm 2010 đến năm 2013 anh N có g i về cho chị Nh mỗi tháng khoảng 20.000.000đ, tổng số tiền g i về trong ba năm khoảng 600.000.000 đồng. Nay anh N đề nghị Tòa án yêu cầu chị Nh trừ đi số tiền chị Nh trang trải trả nợ chi phí cho anh N đi học tiếng Đài Loan và chi phí đi uất kh u lao động số tiền còn lại đ a vào tài sản chung. Chị Nh không nhất trí yêu cầu của anh N vì khi anh N đi uất kh u lao động vợ chồng không có tiền, tất cả phải đi vay bằng vàng khoảng gần 6 cây vàng, vợ chồng có vay m ợn của anh em, bạn bè và ng ời thân, đến khi anh N đi làm hàng tháng g i tiền về chị phải trả nợ cho anh N, khi vay giá vàng 2.000.000 đồng/ch , khi trả giá vàng lên, có những thời điểm là 4.700.000 đồng/ch , chi phí sinh hoạt cho con cái ăn học, chi tiêu sinh hoạt ăn uống trong gia đình, mua sắm đồ dùng dụng cụ sinh hoạt trong gia đình, chữa bệnh nấm cho anh N, còn bao nhiêu tu s a mở rộng chăn nuôi. Nên chị Nh không nhất trí ý kiến của anh N đ a ra, đây là những khoản tiền của m ời mấy năm về tr ớc, nếu còn thì vợ chồng đã không phải đi vay nợ hoặc in r t hội non lấy tiền s a chữa nhà và ây d ng thêm nh anh N trình bày.

Tất cả các chi tiêu gia đình từ khi kết hôn với anh N đến nay đều do chị Nh chi tiêu lo liệu, anh N ch biết đi làm nếu có tiền thì mang về đ a cho chị, không có tiền (trong mấy năm covid) tất cả do chị lo vay m ợn chi tiêu trong gia đình, vợ chồng không có công việc ổn định nên đời sống rất khó khăn, vợ chồng không có vốn nên khi có việc đều phải đi vay m ợn sau đó làm đ ợc thì trả dần, thời giá thay đổi vì là vay vàng nên chênh lệch khi vay bán đ ợc giá thấp, khi trả lại phải mua lại trả chênh lệch giá cao, vay nợ thì phải trả lãi. Nên vợ chồng đến nay vẫn còn nợ nần nhiều nh chị kê khai trên là đ ng. Vì kinh tế khó khăn nên mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình cũng phát sinh, anh N ăn nói chậm chạp nên khi đi hỏi vay nợ cũng khó, chị Nh phải là ng ời đứng lên gánh vác, tại phiên tòa anh N cùng ng ời bảo vệ quyền lợi cho anh N cố tình chối bỏ trách nhiệm trả nợ chung vợ chồng chị Nh không đồng ý, chị Nh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Mọi chi tiêu gia đình từ tr ớc đến nay trong gia đình chị và anh N đều biết và công khai, vợ chồng không bao giờ ghi sổ sách giấy tờ gì nên chị không có để nộp cho Tòa án.

Vì vậy khi ly hôn chị Nh đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ chia đôi mỗi ng ời h ởng một n a quyền lợi và nghĩa vụ:

Chị in nhận quyền s dụng toàn bộ th a đất số 201 tờ bản đồ số 3 diện tích 300m2 và sở hữu toàn bộ tài sản trên đất, bàn ghế. Hiện nay chị Nh ch a có chỗ ở đang cùng con trai, con dâu, và cháu nội phải đi thuê nhà ở vì vậy chị đề nghị Tòa án chia diện tích đất có nhà công trình cho chị và các con có chỗ ăn ở; Th a đất ruộng số 200, tờ bản đồ số 3, diện tích 327 m2 nay quật thành luống trồng cây màu và anh chị đề nghị cắt chia đôi, mỗi ng ời đ ợc nhận một n a t ơng đ ơng diện tích là 163,5 m2. Th a đất số 372 tờ bản đồ số 9 diện tích 128m2 nếu anh N đồng ý s dụng thì chị Nh nhất trí để anh N s dụng với giá 1.150.000.000đ thấp hơn giá thị tr ờng hiện nay, nếu anh N không nhất trí thì đề nghị Tòa án giao cho anh N đ ợc quyền s dụng th a đất này với giá hội đồng đã định giá theo quy định pháp luật. Về dụng cụ sinh hoạt chị Nh in s dụng bộ bàn ghế còn để anh N s dụng 01 tủ lạnh, 01 máy giặt. Bên nào nhận giá trị tài sản nhiều hơn thì phải có trách nhiệm thanh toán chênh lệch tài sản cho bên nhận giá trị ít hơn.

Về nghĩa vụ nợ chung: Chị Nh nhận trách nhiệm thanh toán các khoản nợ cho chị Hoa, chị Ph ợng, anh Chiến tổng là: 29 ch vàng 9999 và 5000.000đ. Để anh N thanh toán trả Ngân hàng nông nghiệp 170.000.000đ, trả nợ vợ chồng anh Giang, chị R 5 ch vàng 9999, ông Thừa 5 ch vàng 9999, bà Chuyên 15.000.000đ.

* Tại bản t khai ngày 21/4/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Văn N trình bày:

Về hôn nhân: Anh N công nhận lời khai của chị Nh là đ ng về thời gian vợ chồng kết hôn, quá trình chung sống. Tuy nhiên theo anh N nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do tính cách và quan điểm sống khác nhau, có th nh thoảng cãi nhau, chị Nh có biểu hiện không chung thủy, đôi l c anh nóng tính có ch i chị Nh và anh công nhận hiện nay chị Nh và các con, các cháu anh đã thuê nhà ra ở riêng, chị Nh xin ly hôn, anh N nhất trí ly hôn chị Nh.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung đã thành niên nh chị Nh trình bày là đ ng. Anh N không đề nghị Tòa án giải quyết con chung.

Về tài sản: Anh N khai nhận vợ chồng có khối tài sản chung là 03 th a đất, nhà công trình ây d ng trên đất và một số dụng cụ sinh hoạt nh chị Nh trình bày là đ ng.

Tài sản không thống nhất với chị Nh: Năm 2010 đến 2013 anh N đi lao động uất kh u tại Đài Loan. Tổng số tiền anh g i về cho chị Nh là khoảng 600.000.000đ, mỗi tháng anh g i về cho chị Nh khoảng 20.000.000đ. Nguồn tiền đi n ớc ngoài do chị Nh đi vay đ a anh nộp một lần khoảng 05 cây vàng, l c đó giá vàng từ khoảng 1.900.000đ đến 2.000.000đ/ch , đổi ra tiền đ ợc khoảng 120.000.000đ. Anh thừa nhận giá vàng khi trả cao hơn khi vay nh ng anh cho rằng trả nợ ch a hết tiền anh g i về. Năm 2013 anh về n ớc có hỏi chị Nh số tiền anh g i về thì chị Nh nói đã mang đi trả nợ, chi tiêu sinh hoạt gia đình, cho con ăn học, có còn lại một ít nh ng anh không biết là bao nhiêu do anh tin t ởng không hỏi thêm. Việc vay tiền và chi tiêu gia đình do chị Nh chi tiêu hết anh không biết cụ thể. Năm 2018 do nhà c a uống cấp nên anh có s a chữa và ây mở rộng thêm một số công trình nhà, những năm sau này có ây thêm chuồng trại chăn nuôi nh hiện nay.

Quan điểm của anh N về chia tài sản: Trong quá trình tố tụng tại Tòa án anh nhất trí đề nghị Tòa án chia đôi. Về th a đất số 201, tờ bản đồ số 3 thì anh N nhận phần đất phía đông giáp m ơng, phần đất phía Tây có nhà và các công trình ây d ng thì anh để chị Nh và các con s dụng. Th a đất số 372 chia đôi giá trị anh không nhất trí giá trị đất của chị Nh đ a ra, anh đồng ý với giá hội đồng đã định giá và anh đề nghị Tòa án khi chia tài sản thì để chị Nh s dụng th a đất này, anh nhận thanh toán giá trị. Th a đất ruộng chia đôi. Về dụng cụ sinh hoạt anh đồng ý nhận 01 máy giặt và 01 tủ lạnh, để chị Nh s dụng bộ bàn ghế.

Đối với số tiền anh đi uất kh u lao động g i về cho chị Nh từ 2010 - 2013, chị Nh là ng ời chi tiêu cho gia đình thì sau khi trừ đi số tiền trả nợ còn bao nhiêu thì đ a vào tài sản chung của vợ chồng.

Về nghĩa vụ nợ chung: Anh N công nhận vợ chồng có các khoản nợ chung gồm có: Nợ ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Cồn số tiền 170.000.000đồng (tiền lãi từ tháng 12/2022 đến nay đều do mình anh trả); nợ ph ờng vàng của ông Thừa 05 ch vàng 9999; nợ của bà Trần Thị Ch (mẹ đẻ anh) số tiền 15.000.000đồng.

Anh N nhận thanh toán trả nợ ph ờng cho ông Thừa, trả nợ bà Chuyên, khoản nợ ngân hàng anh đề nghị chia đôi, mỗi ng ời trả một n a.

Đối với các khoản vay khác chị Nh khai là nợ chung của vợ chồng, anh N không tr c tiếp đi vay nên không nhất trí trả, đề nghị Tòa án em t giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại bản tự hai ngày 11/4/2023 và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị P trình bày:

Chị là chị gái của chị Nh. Vợ chồng chị Nh, anh N có tham gia chơi hội vàng do chị làm chủ và đã r t thứ 3 vào ngày 30/5/2018 đ ợc 33 ch vàng 9999. Khi r t hội vàng chị Nh nói về để trang trải trả tiền s a nhà. Nay vợ chồng chị Nh ly hôn, chị Ph ợng đề nghị Tòa án buộc vợ chồng chị Nh, anh N phải có trách nhiệm trả nợ cho chị số vàng hội còn thiếu để chị cấp hội cho những ng ời khác ch a lĩnh hội lĩnh sau đến khi kết th c hội là 15 ch vàng 9999.

Tại bản tự hai ngày 11/4/2023 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị là chị gái của chị Nh. Năm 2022 chị Nh có vay chị 01 ch vàng 9999 và số tiền 5.000.000đồng nh chị Nh trình bày là đ ng. Nay chị Hoa yêu cầu vợ chồng chị Nh và anh N phải có trách nhiệm trả các khoản nợ trên, không yêu cầu trả lãi.

Tại bản tự hai ngày 14/4/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn G và chị Lại Thị R tại phiên tòa trình bày:

Anh Giang là cháu họ của anh N. Ngày 16/6/2022, chị Nh có sang nhà vay anh chị 05 ch vàng 9999 để đóng ph ờng nh chị Nh trình bày là đ ng. Anh N có sang nhà hỏi về khoản vay này và khất nợ vợ chồng chị R , anh Giang. Nay vợ chồng chị Nh, anh N ch a trả nợ nên anh chị yêu cầu vợ chồng chị Nh và anh N phải có trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng chị, không yêu cầu trả lãi.

Tại bản tự hai ngày 14/4/2023 và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn V trình bày:

Ông là bố đẻ của chị Nh. Vợ chồng chị Nh, anh N là con cái của ông nên mỗi khi vợ chồng t ng thiếu khó khăn hỏi vay tiền, vàng lo việc gia đình thì vợ chồng ông đều cố gắng gi p con, nhiều lần anh chị vay ch a có để trả nợ nh ng vì th ơng con nên ông bà vẫn cho vợ chồng chị Nh vay, vì vợ chồng chị Nh khó khăn hơn các con khác của ông bà. Tính đến nay vợ chồng anh chị Nh còn nợ vợ chồng ông 26,5 ch vàng 9999 nh chị Nh trình bày là đ ng. Tr ớc đây khi giải quyết vụ án ông đã yêu cầu chị Nh và anh N khi ly hôn phải có trách nhiệm thanh toán trả cho ông toàn bộ số vàng trên vì ông cũng phải tiết kiệm rất vất vả mới có. Tuy nhiên anh N chối bỏ cùng chị Nh trả nợ cho ông, nay chị Nh r t yêu cầu và in t có trách nhiệm trả nợ cho gia đình ông, vì là bố con trong gia đình nên ông nhất trí với ý kiến của chị Nh, gia đình ông và chị Nh sẽ t giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự hai ngày 11/4/2023 và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn Th trình bày:

Ông không có quan hệ gì với vợ chồng anh N, chị Nh. Vợ chồng chị Nh và anh N có tham gia 01 ph ờng vàng do ông làm chủ, vợ chồng chị Nh, anh N đã r t ph ờng đ ợc cấp thứ 3 ngày 10/6/2019 (21 ch ), hiện còn phải góp 2 suất t ơng đ ơng 05 ch vàng 9999. Nay ông Thừa yêu cầu vợ chồng anh N, chị Nh phải có trách nhiệm trả ph ờng cho đến khi kết th c ph ờng là 05 ch vàng 9999 (anh N tham gia 02 suất, đứng tên tham gia cho bạn 01 suất).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Ch, ngày 06/8/2023 trình bày:

Bà là mẹ đẻ của anh Trần Văn N, cuối năm 2022 bà có g i vợ chồng anh N, chị Nh giữ hộ số tiền 15.000.000đồng và 0,5 ch vàng để bà d ỡng già sau này cho con cái anh N. Nay chị Nh và anh N ly hôn, bà yêu cầu vợ chồng anh N, chị Nh phải trả bà số tiền 15.000.000đồng. Hiện nay có một số công trình phụ của chị Nh anh N xây lấn sang đất của bà, bà yêu cầu vợ chồng anh N chị Nh phải có trách nhiệm tháo dỡ phần công trình lấn sang để trả lại đất cho bà.

Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Cồn do ông Bùi Quang Hùng là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 12/01/2022, vợ chồng anh Trần Văn N, chị Nguyễn Thị Nh có ký hợp đồng tín dụng số 3209-LAV 202200136 với Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Cồn để vay số tiền 250.000.000đồng. Hai bên thống nhất thời hạn vay là 36 tháng, lãi suất 11,5%/năm, mục đích vay trồng cây cảnh, chăn nuôi lợn và nhu cầu phụ vụ đời sống hộ gia đình; tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền s dụng th a đất số 372 tờ bản đồ số 9 diện tích 128m2 của vợ chồng anh N, chị Nh. Ngân hàng đã giải ngân số tiền trên cho anh N, chị Nh. Anh N, chị Nh đã trả số tiền nợ gốc là 80.000.000đồng và tiền lãi đến hết ngày 18/8/2023. Hiện còn nợ: tiền gốc là 170.000.000đồng và tiền lãi từ ngày 19/8/2023 đến ngày 23/8/2023 là 256.164 đồng. Nay vợ chồng anh N chị Nh ly hôn, Ngân hàng yêu cầu anh chị phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc là 170.000.000đồng và tiền lãi kể từ ngày 19/8/2023 đến ngày 23/8/2023 là 256.164 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 24/8/2023 đến khi thanh toán ong toàn bộ khoản nợ theo hợp đồng.

Tại bản tự hai ngày 11/4/2023 và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn Ch trình bày:

Anh là anh họ của chị Nguyễn Thị Nh. Khoảng tháng 6, tháng 7 năm 2018, chị Nh có 2 lần đến nhà hỏi vay vàng về s a nhà, anh Chiến đồng ý. Mỗi lần cho chị Nh vay 09 ch , tổng vay 2 lần là 18 ch vàng 9999. Việc vay m ợn không có giấy tờ gì. Sau khi c ới con, anh N có sang nhà trả anh Chiến 5 ch vàng 9999 và in khất nợ 13 ch vàng 9999 sẽ trả sau. Từ đó đến nay vợ chồng anh N, chị Nh ch a trả thêm đ ợc khoản nào. Nay anh Chiến yêu cầu vợ chồng anh N và chị Nh phải có trách nhiệm trả anh số vàng 13 ch vàng 24K, không yêu cầu trả lãi.

Tại phiên tòa sơ th m:

Chị Nh in r t yêu cầu giải quyết khoản nợ chung vợ chồng của ông Viễn và t chị Nh giải quyết với ông Viễn, không đề nghị Tòa án giải quyết về khoản vay vàng của ông Viễn. Ông Viễn nhất trí với chị Nh về nội dung này. Chị Nh khẳng định vợ chồng không vay cũng không giữ hộ 0,5 ch vàng 9999 của bà Chuyên. Các vấn đề khác chị Nh giữ nguyên ý kiến nh trình bày ở trên.

Anh N vẫn chối bỏ trách nhiệm trả nợ chung vợ chồng khoản nợ vay của bố mẹ đẻ chị Nh và đề nghị Tòa án khi chia tài sản chung vợ chồng thì chia cho anh nhận 60%, chia cho chị Nh 40% giá trị tài sản chung. Các vấn đề khác anh N giữ nguyên ý kiến nh trình bày ở trên.

Luật s bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Nh, anh N có quan điểm đồng nhất với ý kiến của thân chủ mình, đề nghị Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đ ơng s theo quy định pháp luật.

Tại bản án số 226/2023/HNGĐ-ST ngày 28-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, t nh Nam Định quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 59, Điều 60, Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 463, Điều 466 và 468 của Bộ luật Dân s năm 2015; Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 244 Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân s năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, s dụng án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Nh và anh Trần Văn N.

2. Về chia tài sản chung và nghĩa vụ nợ chung:

2.1. Chia cho chị Nguyễn Thị Nh đ ợc quyền s dụng diện tích đất 183m2 (trong đó: đất ONT 100m2 đất ở, đất CLN 13m2, đất NTS 70m2) thuộc th a số 201, tờ bản đồ số 3 tại Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định, phần đất này đã đ ợc UBND huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền s dụng số CB210501 ngày 23/10/2015 mang tên Nguyễn Thị Nh, Trần Văn N; Phần đất chị Nh đ ợc quyền s dụng đ ợc giới hạn bởi các điểm (1,2,3,4,6,6,1). Chị Nh đ ợc quyền sở hữu các công trình ây d ng trên phần đất này gồm: một nhà hai tầng và các công trình phụ khác.

Chị Nh đ ợc quyền s dụng 163,5m2 đất ruộng thuộc th a số 200, tờ bản đồ số 3 tại Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định và s dụng cây cối hoa màu, tài sản khác trên phần đất đ ợc chia. Đất đã đ ợc UBND huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền s dụng ngày 20/6/2017 mang tên Nguyễn Thị Nh, Trần Văn N. Phần đất chị Nh đ ợc quyền s dụng đ ợc giới hạn bởi các điểm (12,13,15,16,12).

Chị Nh đ ợc quyền sở hữu, s dụng bộ bàn ghế sa lông trị giá 23.000.000đ.

2.2. Chị Nguyễn Thị Nh có trách nhiệm trả nợ cho anh Trần Văn Ch 13 ch vàng 9999; chị Nguyễn Thị P 15 ch vàng 9999; trả chị Nguyễn Thị H 01 ch vàng 9999 và 5.000.000đồng, trả vợ chồng anh Trần Văn G, chị Lại Thị R 05 ch vàng 9999. Giá vàng đ ợc tính 5.705.000đ/ch . Tổng các khoản nợ chung chị Nh phải trả trị giá là 198.970.000đ.

2.3. Chia cho anh Trần Văn N đ ợc quyền s dụng th a đất số 372, tờ bản đồ số 9, diện tích 128m2 địa ch : óm 3, ã Hải Tây, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định. Đất đã đ ợc UBND huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền s dụng số W847037 ngày 28/6/2004 mang tên Nguyễn Thị Nh, Trần Văn N.

Anh N đ ợc quyền s dụng diện tích đất 117m2 (trong đó: đất ONT 70m2 đất ở, đất CLN 47m2) thuộc th a số 201, tờ bản đồ số 3 tại Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định. Đất đã đ ợc UBND huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền s dụng số CB210501 ngày 23/10/2015 mang tên Nguyễn Thị Nh, Trần Văn N và đ ợc quyển sở hữu các công trình ây d ng trên phần đất mình đ ợc quyền s dụng (phần công trình hết giá trị khâu hao). Phần đất anh N đ ợc quyền s dụng đ ợc giới hạn bởi các điểm (3,4,5,6,7,8,9,10,3).

Anh N đ ợc quyền s dụng 163,5m2 đất hai l a thuộc th a số 200, tờ bản đồ số 3 tại Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định và s dụng tài sản, cây cối hoa màu trên đất đ ợc chia. Đất đã đ ợc UBND huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền s dụng CK 643687 ngày 20/6/2017 mang tên Nguyễn Thị Nh, Trần Văn N. Phần đất anh N đ ợc quyền s dụng đ ợc giới hạn bởi các điểm (11,12,13,14,11).

Anh N đ ợc quyền quyến sở hữu 01 tủ lạnh, 01 máy giặt nhãn hiệu Toshiba đã cũ.

Anh N và chị Nh có trách nhiệm tháo dỡ các công trình ây d ng đã xây trên đất của bà Chuyên để trả lại mặt bằng đất cho bà Chuyên khi bà Chuyên có yêu cầu.

Hiện nay bản gốc giấy chứng nhận quyền s dụng th a đất số 201, tờ bản đồ số 3 tại óm 5, ã Hải Tây do anh Trần Văn N đang giữ; bản gốc giấy chứng nhận quyền s dụng th a đất ruộng số 200, tờ bản đồ số 3 tại óm 5, ã Hải Tây do UBND ã Hải Tây đang giữ; bản gốc giấy chứng nhận quyền s dụng th a đất số 372, tờ bản đồ số 9 tại óm 3, ã Hải Tây, do Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Cồn đang quản lý.

(Vị trí, chiều cạnh quyền s dụng đất và tài sản trên đất có sơ đồ vẽ kèm theo).

Các đ ơng s có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan nhà n ớc có th m quyền để đ ợc cấp Giấy chứng nhận quyền s dụng đất theo quyết định của bản án.

2.4. Anh Trần Văn N có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Cồn số tiền 170.256.164đồng (trong đó nợ gốc là 170.000.000đồng, tiền lãi từ ngày 19/8/2023 đến ngày 23/8/2023 là 256.164 đồng) và tiễn lãi phát sinh kể từ ngày 24/8/2023 cho đến khi trả ong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng; trả bà Trần Thị Ch 15.000.000đồng, trả ông Trần Văn Th 05 ch vàng 9999. Giá vàng đ ợc tính 5.705.000đ/ch . Tổng các khoản nợ anh N phải trả trị giá 213.781.164đồng.

2.5. Anh Trần Văn N có trách nhiệm thanh toán trả cho chị Nguyễn Thị Nh số tiền chênh lệch tài sản là 665.821.775đồng.

2.6. Đình ch yêu cầu trả nợ chung đối với khoản vay nợ 26,5 ch vàng 9999 chị Nh khai vay ông Nguyễn Văn V do đ ơng s r t yêu cầu.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ng ời đ ợc thi hành án) cho đến khi thi hành án ong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân s năm 2015, trừ tr ờng hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị Nh nhận nộp toàn bộ chi phí tố tụng. Xác nhận chị Nh đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng đủ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không em t giải quyết.

Ngoài ra, bản án sơ th m còn tuyên án phí, quyền kháng cáo và biện pháp thi hành án của các đ ơng s .

Ngày 08-9-2023 anh Trần Văn N là bị đơn trong vụ án có đơn kháng cáo với nội dung:

+ Đề nghị làm rõ lỗi chị Nh dẫn đến đổ vỡ hôn nhân gia đình, từ đó ác định phần chia tài sản chung theo điểm d khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình.

+ Tiến hành làm rõ lời khai của những ng ời tham gia ph ờng vàng của chị Ph ợng về việc có việc anh N tham gia ph ờng vàng do chị Ph ợng lập không?

+ Đề nghị HĐXX ph c th m thành lập hội đồng định giá tài sản khác để định giá đất từng loại th a đất 201, tờ bản đồ số 3, diện tích 300m2 tại óm 5, ã Hải Tây, huyện Hải Hậu.

+ Không nhất trí cấp sơ th m buộc anh N phải có nghĩa vụ trả nợ đối với chị Ph ợng, anh Chiến, anh Giang, chị Hoa vì ch a đủ căn cứ pháp lý và yêu cầu chị Nh làm rõ đã s dụng số tiền 600 triệu (thời gian anh N đi n ớc ngoài) nh thế nào?

+ Đề nghị chia tài sản chung đối với th a 201 tờ bản đồ số 3, óm 5, ã Hải Tây, huyện Hải Hậu cho anh N đ ợc nhận phần đất giáp th a đất 202 mà mẹ đẻ anh N là bà Trần Thị Ch đang quản lý, s dụng.

Tại phiên toà ph c th m:

Các đ ơng s thỏa thuận đ ợc với nhau về việc giải quyết vụ án, luật s bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, bị đơn nhất trí nội dung thỏa thuận của các đ ơng s :

- Về tài sản chung:

+ Giữ nguyên quan điểm định giá đối với th a đất số 201, tờ bản đồ số 3, diện tích 300m2, địa ch : Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định, trị giá 210.000.000đồng, nhà ống hai tầng và các công trình ây d ng trên đất trị giá 316.027.000đồng;

+ Th a đất ruộng số 200 tờ bản đồ số 3, diện tích 327m2 tại Xóm 5, xã HT, huyện HH, t nh Nam Định trị giá 16.350.000đồng và công trình trên đất là 10.867.000 đồng.

+ Thống nhất ác định lại giá trị th a đất số 372, tờ bản đồ số 9, diện tích 128m2, địa ch : óm 3, ã Hải Tây, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định, trị giá 1.950.000.000đồng.

+ Đồ dùng sinh hoạt: Gồm có 01 bộ bàn ghế gỗ có trị giá 23.000.000 triệu đồng. Ngoài ra vợ chồng còn có 01 máy giặt, 01 tủ lạnh đều đã cũ.

Tổng giá trị tài sản vợ chồng chị Nh và anh N có là: 2.526.244.000đồng

Chị Nh và anh N thỏa thuận:

Giao cho anh N toàn bộ diện tích đất và các công trình trên đất tại th a đất số 201, tờ bản đồ số 3, diện tích 300m2 và th a đất ruộng cùng công trình trên đất tại th a đất số 200 tờ bản đồ số 3, diện tích 327m2 tại Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định. Tổng giá trị anh N đ ợc nhận là 553.244.000 đồng cùng với 01 máy giặt, 01 tủ lạnh đều đã cũ.

Giao chị Nh s dụng th a đất số 372, tờ bản đồ số 9, diện tích 128m2, địa ch : óm 3, ã Hải Tây, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định, trị giá 1.950.000.000đồng và bộ bàn ghế gỗ có trị giá 23.000.000 triệu đồng. Tổng giá trị chị Nh đ ợc nhận là 1.973.000.000 đồng.

- Về công nợ chung: Hai bên thống nhất công nợ chung là 412.751.000 đồng nh cấp sơ th m đã tuyên.

+ Anh Trần Văn N có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Cồn số tiền 170.256.164đồng (trong đó nợ gốc là 170.000.000đồng, tiền lãi từ ngày 19/8/2023 đến ngày 23/8/2023 là 256.164 đồng) và tiễn lãi phát sinh kể từ ngày 24/8/2023 cho đến khi trả ong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng; trả bà Trần Thị Ch 15.000.000đồng, trả ông Trần Văn Th 05 ch vàng 9999. Giá vàng đ ợc tính 5.705.000đ/ch . Tổng các khoản nợ anh N phải trả trị giá 213.781.164đồng

+ Chị Nguyễn Thị Nh có trách nhiệm trả nợ cho anh Trần Văn Ch 13 ch vàng 9999; chị Nguyễn Thị P 15 ch vàng 9999; trả chị Nguyễn Thị H 01 ch vàng 9999 và 5.000.000đồng, trả vợ chồng anh Trần Văn G, chị Lại Thị R 05 ch vàng 9999. Giá vàng đ ợc tính 5.705.000đ/ch . Tổng các khoản nợ chung chị Nh phải trả trị giá là 198.970.000đ.

Đối chiếu chênh lệch tài sản đ ợc nhận, chị Nh có trách nhiệm thanh toán cho anh N số tiền 725.175.000 đồng

Kiểm sát viên Viện iểm sát tỉnh Nam Định phát biểu ý iến:

Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án tại cấp ph c th m, Th m phán, Hội đồng t và th ký phiên tòa đã tuân theo các quy định pháp luật tố tụng dân s . Các đ ơng s chấp hành đ ng các quy định pháp luật tố tụng dân s , quyền lợi của các đ ơng s đ ợc bảo đảm.

Về nội dung của vụ án: Tại phiên tòa, các bên đ ơng s đã thống nhất đ ợc giá trị th a đất số 327, tờ bản đồ số 9, diện tích 128m2 là 1.950.000.000 đồng thấp hơn giá trị do Hội đồng định giá của cấp sơ th m, tuy nhiên s thỏa thuận của các đ ơng s không trái quy định của pháp luật nên đề nghị HĐXX chấp nhận. Mặt khác giữa chị Nh và anh N tại phiên tòa t nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức ã hội và phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng t

căn cứ Điều 300 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, đề nghị HĐXX s a bản án sơ th m theo h ớng công nhận nội dung thỏa thuận của các đ ơng s . Án phí giải quyết theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đ ợc th m tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng t nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của anh Trần Văn N đ ợc làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 272; khoản 1 Điều 273; Điều 276 Bộ luật Tố tụng Dân s nên đ ợc Hội đồng t chấp nhận em t giải quyết theo trình t tố tụng ph c th m.

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ th m đã th c hiện đầy đủ các quy định của BLTTDS, không có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, bảo đảm đ ợc quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đ ơng s trong vụ án.

Xét đơn kháng cáo của anh Trần Văn N về mâu thuẫn vợ chồng, phân chia tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nh và anh Trần Văn N t nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân ã Hải Tây vào ngày 03/01/1998 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân từ tháng 5/2022 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nh vậy, mâu thuẫn giữa chị Nh và anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể k o dài, mục đích hôn nhân không đạt đ ợc nên cấp sơ th m đã cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Nh và anh Trần Văn N là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, công nợ chung:

Tại phiên tòa ph c th m, Các đ ơng s thỏa thuận đ ợc với nhau về việc giải quyết vụ án:

- Về tài sản chung:

+ Giữ nguyên quan điểm định giá đối với th a đất số 201, tờ bản đồ số 3, diện tích 300m2, địa ch : Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định, trị giá 210.000.000đồng, nhà ống hai tầng và các công trình ây d ng trên đất trị giá 316.027.000đồng;

+ Th a đất ruộng số 200 tờ bản đồ số 3, diện tích 327m2 tại Xóm 5, xã HT, huyện HH, t nh Nam Định trị giá 16.350.000đồng và công trình trên đất là 10.867.000 đồng.

+ Thống nhất giá trị th a đất số 372, tờ bản đồ số 9, diện tích 128m2, địa ch : óm 3, ã Hải Tây, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định, trị giá 1.950.000.000đồng.

+ Đồ dùng sinh hoạt: gồm có 01 bộ bàn ghế gỗ có trị giá 23.000.000 triệu đồng. Ngoài ra vợ chồng còn có 01 máy giặt, 01 tủ lạnh đều đã cũ.

Tổng giá trị tài sản vợ chồng chị Nh và anh N có là: 2.526.244.000đồng

Chị Nh và anh N thỏa thuận:

Giao cho anh N toàn bộ diện tích đất và các công trình trên đất tại th a đất số 201, tờ bản đồ số 3, diện tích 300m2 và th a đất ruộng cùng công trình trên đất tại th a đất số 200 tờ bản đồ số 3, diện tích 327m2 tại Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định. Tổng giá trị anh N đ ợc nhận là 553.244.000 đồng cùng với 01 máy giặt, 01 tủ lạnh đều đã cũ.

Giao chị Nh s dụng th a đất số 372, tờ bản đồ số 9, diện tích 128m2, địa ch : óm 3, ã Hải Tây, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định, trị giá 1.950.000.000đồng và bộ bàn ghế gỗ có trị giá 23.000.000 triệu đồng. Tổng giá trị chị Nh đ ợc nhận là 1.973.000.000 đồng.

- Về công nợ chung: Hai bên thống nhất công nợ chung là 412.751.000 đồng nh cấp sơ th m đã tuyên.

+ Anh Trần Văn N có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Cồn số tiền 170.256.164đồng (trong đó nợ gốc là 170.000.000đồng, tiền lãi từ ngày 19/8/2023 đến ngày 23/8/2023 là 256.164 đồng) và tiễn lãi phát sinh kể từ ngày 24/8/2023 cho đến khi trả ong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng; trả bà Trần Thị Ch 15.000.000đồng, trả ông Trần Văn Th 05 ch vàng 9999. Giá vàng đ ợc tính 5.705.000đ/ch . Tổng các khoản nợ anh N phải trả là 213.781.164đồng

+ Chị Nguyễn Thị Nh có trách nhiệm trả nợ cho anh Trần Văn Ch 13 ch vàng 9999; chị Nguyễn Thị P 15 ch vàng 9999; trả chị Nguyễn Thị H 01 ch vàng 9999 và 5.000.000đồng, trả vợ chồng anh Trần Văn G, chị Lại Thị R 05 ch vàng 9999. Giá vàng đ ợc tính 5.705.000đ/ch . Tổng các khoản nợ chung chị Nh phải trả là 198.970.000đ.

Chị Nh đ ợc chia s dụng khối tài sản chung trị giá 1.973.000.000đồng và trả nợ tổng các khoản nợ trị giá 198.970.000đ; anh N đang đ ợc chia s dụng tài sản trị giá 553.244.000đồng và trả tổng các khoản nợ chung trị giá là 213.781.164đồng + 15.783.561 đồng (anh N đã trả lãi ngân hàng từ tháng 12/2022 đến ngày 18/8/2023).

Sau khi đối trừ nghĩa vụ, chị Nh phải thanh toán chênh lệch chia tài sản cho anh N số tiền là: 725.175.000 đồng.

Về chi phí tố tụng: Chị Nh nhận nộp toàn bộ chi phí em t, th m định tại chỗ và định giá tài sản; chị Nh đã nộp đủ không yêu cầu Hội đồng t

em t giải quyết, do đó HĐXX ph c th m không em t giải quyết.

Xác định giá vàng tại thời điểm t sơ th m ngày 28-8-2023, giá vàng loại 9999 trung bình trên thị tr ờng là 5.705.000 đồng/ch .

Về án phí dân s sơ th m: Tr ớc khi mở phiên tòa, anh Trần Văn N và chị Nguyễn Thị Nh có đơn in thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa các đ ơng s đề nghị HĐXX công nhận s thỏa thuận về việc giải quyết vụ án, chị Nh và anh N hiện tại không có công việc ổn định, hoàn cảnh khó khăn, có đơn in giảm án phí. Vì vậy, có căn cứ để giảm một phần phần án phí sơ th m là phù hợp.

Án phí dân s ph c th m: Tại phiên tòa ph c th m, các đ ơng s thỏa thuận đ ợc với nhau về việc giải quyết vụ án. Do đó ng ời kháng cáo là anh Trần Văn N phải nộp án phí dân s ph c th m là 300.000 đồng.

Những quyết định khác của bản án sơ th m không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng t không giải quyết, có hiệu l c pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 300; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân s năm 2015. S a bản án sơ th m số 226/2023/HNGĐ-ST ngày 28-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, t nh Nam Định.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 59, Điều 60, Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 463, Điều 466 và 468 của Bộ luật Dân s năm 2015; Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 244 Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân s năm 2015; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, s dụng án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Nh và anh Trần Văn N.

2. Về chia tài sản chung và nghĩa vụ nợ chung:

2.1. Chia cho chị Nguyễn Thị Nh đ ợc quyền s dụng th a đất số 372, tờ bản đồ số 9, diện tích 128m2 địa ch : óm 3, ã Hải Tây, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định. Đất đã đ ợc UBND huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền s dụng số W847037 ngày 28/6/2004 mang tên Nguyễn Thị Nh, Trần Văn N.

Chị Nh đ ợc quyền sở hữu, s dụng bộ bàn ghế sa lông trị giá 23.000.000đ.

2.2. Chị Nguyễn Thị Nh có trách nhiệm trả nợ cho anh Trần Văn Ch 13 ch vàng 9999; chị Nguyễn Thị P 15 ch vàng 9999; trả chị Nguyễn Thị H 01 ch vàng 9999 và 5.000.000đồng; trả vợ chồng anh Trần Văn G, chị Lại Thị R 05 ch vàng 9999. Giá vàng đ ợc tính 5.705.000đ/ch . Tổng các khoản nợ chung chị Nh phải trả trị giá là 198.970.000đ.

2.3. Chia cho anh Trần Văn N đ ợc quyền s dụng diện tích đất 300m2 (trong đó: đất ONT 170m2 đất ở, đất CLN 60m2, đất NTS 70m2) thuộc th a số 201, tờ bản đồ số 3 tại Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định, phần đất này đã đ ợc UBND huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền s dụng số CB210501 ngày 23/10/2015 mang tên Nguyễn Thị Nh, Trần Văn N; Anh N đ ợc quyền sở hữu các công trình ây d ng trên phần đất này gồm: Một nhà hai tầng và các công trình phụ khác.

Anh N đ ợc quyền s dụng 327m2 đất ruộng và công trình trên đất thuộc th a số 200, tờ bản đồ số 3 tại Xóm 5, ã HT, huyện HH, t nh Nam Định và s dụng cây cối hoa màu, tài sản khác trên phần đất đ ợc chia. Đất đã đ ợc UBND huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền s dụng số CK643687 ngày 20/6/2017 mang tên Nguyễn Thị Nh, Trần Văn N.

Anh N đ ợc quyền quyền sở hữu 01 tủ lạnh, 01 máy giặt nhãn hiệu Toshiba đã cũ.

Anh N có trách nhiệm tháo dỡ các công trình xây dựng đã xây trên đất của bà Chuyên để trả lại mặt bằng đất cho bà Chuyên hi bà Chuyên có yêu cầu.

(Vị trí, chiều cạnh quyền s dụng đất và tài sản trên đất có sơ đồ vẽ kèm theo).

Các đ ơng s có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan nhà n ớc có th m quyền để đ ợc cấp Giấy chứng nhận quyền s dụng đất theo quyết định của bản án.

2.4. Anh Trần Văn N có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Cồn số tiền 170.256.164đồng (trong đó nợ gốc là 170.000.000đồng, tiền lãi từ ngày 19/8/2023 đến ngày 23/8/2023 là 256.164 đồng) và tiễn lãi phát sinh kể từ ngày 24/8/2023 cho đến khi trả ong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng; trả bà Trần Thị Ch 15.000.000đồng, trả ông Trần Văn Th 05 ch vàng 9999. Giá vàng đ ợc tính 5.705.000đ/ch . Tổng các khoản nợ anh N phải trả trị giá 229.564.725đồng [gồm 213.781.164đ + 15.783.561đ (do anh N đã trả lãi ngân hàng từ tháng 12/2022 đến ngày 18/8/2023)].

2.5. Chị Nguyễn Thị Nh có trách nhiệm thanh toán trả cho anh Trần Văn N số tiền chênh lệch tài sản là 725.175.000 đồng.

2.6. Anh Trần Văn N đ ợc nhận số tiền chênh lệch tài sản là 725.175.000 đồng từ chị Nguyễn Thị Nh.

Hiện nay bản gốc giấy chứng nhận quyền s dụng th a đất số 201, tờ bản đồ số 3 tại óm 5, ã Hải Tây do anh Trần Văn N đang giữ; bản gốc giấy chứng nhận quyền s dụng th a đất ruộng số 200, tờ bản đồ số 3 tại óm 5, ã Hải Tây do UBND ã Hải Tây đang giữ; bản gốc giấy chứng nhận quyền s dụng th a đất số 372, tờ bản đồ số 9 tại óm 3, ã Hải Tây, do Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Cồn đang quản lý.

3. Nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu l c pháp luật (đối với các tr ờng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động thi hành án) hoặc kể từ ngày ng ời đ ợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho ng ời đ ợc thi hành án cho đến khi thi hành ong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân s 2015.

4. Về án phí sơ th m: Căn cứ các khoản 2, 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân s năm 2015; Điều 26, 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án:

4.1. Chị Nguyễn Thị Nh phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, 20.631.000 đồng án phí chia tài sản chung và 5.127.000 đồng án phí nghĩa vụ trả nợ. Tổng số tiền chị Nh phải nộp án phí là 26.058.000đồng nh ng đ ợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.000.000 đồng tại biên lai số 0006624 ngày 03/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân s huyện Hải Hậu. Chị Nguyễn Thị Nh phải nộp thêm là 25.058.000đồng.

4.2. Anh Trần Văn N phải nộp 20.631.000 đồng án phí chia tài sản chung và 5.127.000 đồng án phí nghĩa vụ trả nợ. Tổng số tiền anh N phải nộp là 25.758.000 đồng.

5. Án phí dân s ph c th m: Anh Trần Văn N phải nộp số tiền 300.000 đồng, đối trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân s ph c th m tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0002748 ngày 11-9-2023 của Chi cục Thi hành án dân s huyện Hải Hậu, t nh Nam Định, anh N đã nộp đủ.

Tr ờng hợp bản án đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì ng ời đ ợc thi hành án dân s , ng ời phải thi hành án dân s có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án đ ợc th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân s .

Bản án ph c th m có hiệu l c thi hành kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI Đ NG X T X PH C TH M

Cỡ chữ