vanban.org

Bản án 18/2024/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí T, bà Lâm Thị Diễm M đối với ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản”.

Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Chí T, bà Lâm Thị Diễm M số tiền gốc từ việc mua thức ăn chăn nuôi thủy sản là 55.000.000 đồng (năm mươi lăm triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 18/2024/DS-ST Tuyên án 05/07/2024
Phúc thẩm Bản án 440/2024/DS-PT Tuyên án 08/11/2024

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Mua bán tài sản giữa ông T vơi ông D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí T, bà Lâm Thị Diễm M đối với ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TÂN HƯNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/DS-ST
Ngày: 05 - 7 - 2024
“V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Vũ Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Ngọc Chánh.

2. Ông Trần Thanh Minh.

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Năng Hiển, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Thơ – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 173/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 ăm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: - Ông Nguyễn Chí T, sinh năm: 1982.

- Bà Lâm Thị Diểm M, sinh năm: 1991. (có mặt)

Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

- Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Chí T: Bà Lâm Thị Diểm M, sinh năm: 1991; Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp theo văn bản ủy quyền ngày 09/8/2023. (Có mặt)

2. Bị đơn: - Ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1977. (Vắng mặt)

- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1974. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Lâm Thị Diểm M đồng thời là đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Chí T trình bày: Ngày 20/5/2019, ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị N có đến đại lý thức ăn thủy sản của bà mua thiếu thức ăn và thuốc. Tính đến ngày 21/01/2020 ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N còn nợ vợ chồng bà số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng) và có yêu cầu ông D, bà N trả nợ rất nhiều lần nhưng đến nay vẫn chưa trả.

Tại phiên tòa, bà M thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N liên đới trả số tiền gốc là 55.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, nhưng ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N không đến và cũng không có cung cấp lời khai cho Tòa án nên không có ghi nhận được ý kiến của ông D, bà N. Tòa án lập biên bản vắng mặt đương sự, biên bản không tiến hành hòa giải được, tiến hành công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Ông Nguyễn Chí T, bà Lâm Thị Diểm M khởi kiện ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản”, do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng tham gia phiên tòa. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán là đúng theo quy định; Hội đồng xét xử đều đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về nội dung giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Chí T, bà Lâm Thị Diểm M yêu cầu ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N trả số nợ gốc từ việc mua thức ăn thủy sản với số tiền là 55.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi là có căn cứ chấp nhận: Bởi vì căn cứ vào sổ mua bán thì ông Nguyễn Văn D có kết nợ và ký nhận nợ ông T, bà M số tiền trên; Ông D, bà N là vợ chồng, việc mua thức ăn thủy sản nhằm phát triển kinh tế gia đình nên vợ chồng phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ theo yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng thụ lý và giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải nhưng không thành nên Tòa án đứa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Ông Nguyễn Chí T, bà Lâm Thị Diểm M yêu cầu ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N trả số nợ gốc từ việc mua thức ăn chăn nuôi thủy sản số tiền là 55.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi; Bị đơn vắng mặt trông suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến trình bày.

Hội đồng xét xử nhận định:

Ông T, bà M yêu cầu Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N trả trả số nợ gốc từ việc mua thức ăn chăn nuôi thủy sản số tiền là 55.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi là có căn cứ chấp nhận bởi vì: Căn cứ vào sổ mua bán giữa ông T, bà M với ông D thể hiện ông Nguyễn Văn D có kết nợ và ký nhận nợ ông T, bà M số tiền 55.000.000 đồng; Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông D, bà N không đến và cũng không cung cấp lời khai phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông D, bà N là vợ chồng, việc mua thức ăn thủy sản nhằm phát triển kinh tế gia đình nên vợ chồng phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ theo yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.

Từ những phân tích trên xét thấy, đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cần buộc ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ sung ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Áp dụng các Điều 280, 288, 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng các Điều 17, 27, 37 luật Hôn nhân gia đình.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí T, bà Lâm Thị Diễm M đối với ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản”.

Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Chí T, bà Lâm Thị Diễm M số tiền gốc từ việc mua thức ăn chăn nuôi thủy sản là 55.000.000 đồng (năm mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị N phải liên đới chịu 3.750.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách nhà nước. Hoàn trả cho ông Nguyễn Chí T, bà Lâm Thị Diễm M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.320.000 đồng theo biên lai thu số 0001911 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.

3. Vụ án được xét xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ