- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ VĂN THANH - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? *Căn cứ vào quy định tại điểm c, khoản 01 điều 249, điểm s khoản 01 điều 51 Bộ luật hình sự.
| TÒA ÁN NHÂN DÂNCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| −−−−−− Bản án số: 18/2023/HSST Ngày: 13/01/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân. Các hội thẩm nhân dân: 1/Ông Nguyễn Văn Đô. 2/Bà Trần Thị Thanh Nga. -Thƣ ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bạch Hoàng Hùng - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 262/2022/TLST- HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HS ngày 03/01/2023, đối với bị cáo: LÊ VĂN T2 - Tên gọi khác: Không.
- Sinh năm 2000. Tại: Bình Thuận.
- Nơi cư trú và chỗ ở: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Lê Thanh T, sinh năm 1977 và bà Dương Thị Kim T1, sinh năm 1977. Cùng trú tại: Khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.Vợ: chưa có.Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 21/12/2021, Lê Văn T2 đã mua 300.000đ ma túy đá (Methamphetamine) của một đối tượng không rõ nhân thân họ tên và địa chỉ mang về nhà bỏ vào trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, đồng thời T2 đã sử dụng một phần trong số lượng ma túy đá đã mua , số ma túy còn lại T2 vẫn để trong nỏ.
Đến khoảng 10 h cùng ngày bạn của T2 là Lê Văn T3 đến nhà chơi và hỏi xin T2 ma túy để sử dụng; T2 đồng ý và mang số ma túy còn lại trong nỏ mang ra cho T3 sử dụng . Đến 15 cùng ngày công an xã T kiểm tra hành chính phát hiện việc T3 đang sử dụng ma túy nên đã thu giữ bộ dụng cụ sử dụng ma túy và số ma túy còn lại trong nỏ( ký hiệu M khi giám định ).
Tại n kết luận giám định số
LGĐ – PC 9 ngày 28 2 22 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0, 1183 gam; là Methamphetamine.
Lê Văn T3 là người nghiện ma túy nên đã bị cơ quan chức năng lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 14/2022/QĐ-TA ngày 05/4/2022 của Tòa án thành phố P.
Tại bản cáo trạng số 277/QĐ/KSĐT/VKS-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Lê Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo xác định nội dung cáo trạng truy tố không oan sai và khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:Về tội danh và hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát đã giữ nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm c khoản 01 điều 249; điểm s khoản 01, điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn T2 mức án từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng quy định tại điểm a khoản 01 điều 46 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 02, điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 105 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T4 và 01 chai nhựa, 01 ống hút nước bằng nhựa.
Lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Mong Hội đồng xem xét khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về đánh giá chứng cứ, xác định tội danh của các bị cáo:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với với kết quả giám định về vật chứng thu giữ là chất ma túy của Phòng K của Công an tỉnh B và các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 15 giờ ngày 21/12/2021, Lê Văn T2 bị phát hiện đang cất giấu ma túy trong bộ D sử dụng ma túy để tại nhà của T2 ờ số G đường T , thôn T , xã T, thành phố P, nhằm mục đích sử dụng. Kết quả giám định kỹ thuật hình sự đã kết luận đó là chất ma túy Methamphetamine có khối lượng là 0, 1183 gam.
Như vậy với định lượng ma túy Methamphetamine tàng trữ có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam, hành vi của Lê Văn T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp định khung hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 01, điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố đối với bị cáo với tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Văn T2 tàng trữ, do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý trong cùng vụ án.
Đánh giá nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét bị cáo mặc dù nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự , nhưng bị cáo biết rõ nhà nước nghiêm cấm các hành vi tàng trữ sử dụng, vận chuyển, mua bán …vv. trái phép các loại ma túy vì tác dụng nguy hại của nó đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng trái phép. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý về chất ma túy của nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an địa phương. Do vậy cần thiết phải xử lý nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng và phòng chống tội phạm ma túy nói chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm s, khoản 01, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Đối với chất ma túy thu giữ của bị cáo trong vụ án còn lại sau khi giám định được niêm phong trong phong bì số 105 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B,là chất nhà nước cấm lưu hành và 01 chai nhựa, 01 ống hút nước bằng nhựa, các vật chứng này hiện không có giá trị sử dụng, do vậy sẽ bị tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 01 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 02, điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
*Căn cứ vào quy định tại điểm c, khoản 01 điều 249, điểm s khoản 01 điều 51 Bộ luật hình sự. *Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T2 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. * Xử lý vật chứng: điểm a khoản 01 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 02 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại sau khi giám định được niêm phong trong phong bì số 105 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, và 01 chai nhựa, 01 ống hút nước bằng nhựa.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 85 ngày 05/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết)
* Về án phí: Tuyên buộc bị cáo Lê văn T5 phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm; Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/01/2023).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Phan Thiết; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Công an thành phố Phan Thiết - Người tham gia tố tụng; -UBND địa phương nơi b/c thường trú; - Chi cục THADS Phan Thiết; - Cổng TTĐT TANDTC; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Nhƣ Xuân |