vanban.org

Bản án 18/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương Tuyên án 26/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Đình B 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 06/01/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH HÀ
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HSST
Ngày: 26/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Thành

Ông Lê Công Nhận

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Phương Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 26/4/2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2023/HSST, ngày 28/02/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST-HS ngày 13/4/2023 đối với bị cáo:

Lê Đình B, sinh năm 1993 tại thôn H, xã T, huyện T; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình B1 và bà Bùi Thị H; có vợ là Nguyễn Thị Thùy L; có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/8/2011, Ủy ban nhân dân huyện T đã ra Quyết định số 5594/QĐ-UBND về việc đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện, chữa trị tại cơ sở chữa bệnh, thời hạn 24 tháng, bị cáo đã chấp hành xong; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2023, đến ngày 11/01/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; có mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Phạm Trọng H; vắng mặt.

2. Anh Phạm Văn T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Đình B là người nghiện ma túy. Khoảng 16 giờ ngày 06/01/2023, B đi đến khu 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, B mua được 02 gói giấy bên trong chứa chất bột dạng cục, mầu trắng với giá 100.000đ của một người đàn ông không quen biết. B cất giấu gói ma túy vào túi quần phía trước bên trái. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đang đi trên đường tỉnh 390 địa phận khu 1, thị trấn T, huyện T thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái B đang mặc 02 gói giấy kích thước (3x3) cm, bên trong có chứa chất bột dạng cục mầu trắng.

Tại Kết luận giám định số 89/TB-PC09 ngày 09/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) mầu trắng trong 02 gói giấy được niêm phong trong phong bì ghi thu của Lê Đình B gửi đến giám định tổng khối lượng 0,258g là ma túy, loại Heroine. Hoàn lại 0,211g ma túy loại Heroine; 01 mảnh giấy màu bạc; 01 mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, được niêm phong trong phong bì số 89/KL-KTHS.

Bản Cáo trạng số 15/CT-VKSHD-TH ngày 27/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố Lê Đình B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Đình B thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lê Đình B từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 06/01/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy 0,211g ma túy loại Heroine; 01 mảnh giấy màu bạc; 01 mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, đựng trong 01 phong bì niêm phong vật chứng số 89/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại sau giám định. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Đình B phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 06/01/2023, tại khu vực đường tỉnh 390 địa phận khu 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Lê Đình B đang có hành vi cất giấu trái phép 0,258g Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự và ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; có nhân thân xấu: Năm 2011 đã bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo nghề nghiệp không ổn định, kinh tế khó khăn, phải nuôi 02 con nhỏ, do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra có thu giữ của bị cáo 0,258g Heroine và 01 mảnh giấy màu bạc; 01 mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Sau khi giám định, cơ quan giám định hoàn lại 0,211g ma túy loại Heroine; 01 mảnh giấy màu bạc; 01 mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Heroine là chất cấm tàng trữ, lưu hành; 01 mảnh giấy màu bạc, 01 mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định không có giá trị sử dụng, do vậy, cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lê Đình B, quá trình điều tra không đủ cơ sở để xác định nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Đình B 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 06/01/2023.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy 0,211g ma túy loại Heroine; 01 mảnh giấy màu bạc; 01 mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong vật chứng số 89/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại sau giám định.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/3/2023 giữa Công an huyện Thanh Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Đình B phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Đình B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ