- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HS-ST Ngày 18 – 01 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải
2. Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Bảo Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2023, tại Hội trường xét xử - Trụ sở Tòa án nhân
dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 170/2022/TLST-HS, ngày 22 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo:
Vũ Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1986, tại: Phú Thọ.
Nơi cư trú: Xóm 1 CĐ, xã HB, huyện ĐA, thành phố HN; nghề nghiệp:
Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn T; con bà: Phùng Thị R; Có vợ là Trần Thị Thanh H; Vợ chồng có 03 con chung (Con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2019).
Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/10/2022 đến ngày
15/10/2022 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Trần Thị Thanh H; sinh năm 1988; Nơi cư trú: Xóm 1 CĐ, xã HB,
huyện ĐA, thành phố HN. Có mặt.
- Người chứng kiến:
1. Ông Lê Hồng T, sinh năm 1965; Nơi cư trú: TDP KT, phường TT, thành
phố PY, tỉnh TN. Vắng mặt.
2. Ông Ngô Chí T, sinh năm 1962; Nơi cư trú: TDP CT, phường TT, thành
phố PY, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 00 phút ngày 06/10/2022 tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra
tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực Tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Vũ Văn T đang ngồi trên chiếc ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe, BKS 30G-162.56 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Quá trình kiểm tra, T khai nhận bản thân có cất giấu ma túy và tự giác giao nộp cho tổ công tác 02 gói giấy được đựng trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long”, 04 gói giấy đựng trong hộp gạt tàn thuốc lá để ở bên cạnh cần số của chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe, BKS 30G-162.56. Bên trong các gói giấy đều chứa chất rắn màu trắng, theo T khai là ma túy, loại Heroine của T vừa mua được, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác Công an thành phố Phổ Yên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vũ Văn T và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên đã phối
hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân khối lượng số chất rắn màu trắng thu giữ của Vũ Văn T trong 02 gói giấy được đựng trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” được 0,156 gam, lấy toàn bộ cho vào bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định và cân khối lượng số chất rắn màu trắng trong 04 gói giấy được đựng trong hộp gạt tàn thuốc lá bên cạnh cần số của chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe, BKS 30G-162.56 của T được 0,336 gam, lấy toàn bộ cho vào bì niêm phong ký hiệu H2 gửi giám định
Tại bản kết luận giám định số 1624/KL-KTHS ngày 14/10/2022 của Phòng
Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng là 0,156 gam; Mẫu chất rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu H2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,336 gam.
Quá trình điều tra Vũ Văn T khai nhận: Do bản thân là người nghiện chất
ma túy nên khoảng 08 giờ 30 phút ngày 06/10/2022, T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe, BKS 30G-162.56 đi từ nhà ở Xóm 1 CĐ, xã HB, huyện ĐA, thành phố HN đến khu vực Tổ dân phố KT, phường TT, thành phố PY, tỉnh TN để tìm mua ma túy, sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp một người nam thanh niên đi xe mô tô thì T nhờ người này mua hộ T 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) tiền ma túy Heroine, người này đồng ý và điều khiển xe mô tô đi. Khoảng 10 phút sau, người này quay lại và lên xe ô tô do T điều khiển rồi đưa cho T 01 vỏ bao bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long”, bên trong có chứa 06 gói giấy chứa ma túy, loại Heroine. T nhận ma túy từ người này và đưa cho người này số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng), trong đó có 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) tiền mua ma túy và 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền công. Người nam giới này nhận tiền từ T và xuống xe, điều khiển xe mô tô bỏ đi. T ngồi trên xe và lấy từ vỏ bao thuốc lá “Thăng Long” ra 04 gói ma túy Heroine và để trong hộp gạt tàn thuốc lá ở cạnh cần số của xe ô tô để sử dụng sau. Còn lại 02 gói Heroine ở trong vỏ bao thuốc lá “Thăng Long” Toản chuẩn bị mang ra sử dụng thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai của Vũ Văn T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang,
lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe, BKS 30G-162.56, quá trình
điều tra xác định chiếc xe trên đăng ký mang tên vợ của Toản là chị Trần Thị Thanh H, sinh năm 1988; Địa chỉ: Xóm 1 CĐ, xã HB, huyện ĐA, thành phố HN. và chị H khai chị H mua chiếc xe trên bằng tiền của chị H để làm phương tiện đi lại, phục vụ hoạt động kinh doanh, kiếm thu nhập cho gia đình. Ngày 06/10/2022 chị H bận nên nhờ T đi giao hàng hộ cho chị H, việc T sử dụng chiếc xe trên đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân chị H không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Phổ Yên đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu chị Trần Thị Thanh H quản lý, sử dụng.
- 01 bì niêm phong ký hiệu H1, bên trong có 0,146 gam ma túy, loại
Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 bì niêm phong ký hiệu H2, bên trong có 0,326 gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 bì niêm phong ký hiệu L1 bên trong có vỏ bao mẫu lưu kho; 01 bì niêm phong ký hiệu L2 bên trong có vỏ bao mẫu lưu kho. Hiện được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên chờ xử lý.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKSPY ngày
21/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai Đại diện Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng số: 09/CT-VKSPY ngày 21/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”
2. Về hình phạt: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều
51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn T mức án từ 24 đến 30 tháng tù.
3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Toản.
4. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật
Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong có
0,146 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu H2 bên trong có chứa 0,326 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L1 bên trong có vỏ bao mẫu lưu kho; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L2 bên trong có vỏ bao mẫu lưu kho.
Ngoài ra, còn đề nghị bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình,
thừa nhận việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng.
Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xét xem cho được hưởng mức
án thấp nhất để sớm hòa nhập cộng đồng, thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra
Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Văn T
tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng … và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do bản thân là người nghiện ma túy nên hồi 09 giờ ngày 06/10/2022, tại khu vực đường bê tông trong khu Công nghiệp Trung Thành thuộc Tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, Phổ Yên, Thái Nguyên; Vũ Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,492 gam ma túy loại Heroine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, bản Cáo trạng số: 09/CT-VKSPY ngày 21/12/2022 của Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua
bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội
của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo không chịu lao
động, tu dưỡng, rèn luyện nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.
. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
- Về nhân thân: Qua phân tích các yêu cấu tố về nhân thân người phạm tội,
Hội đồng xét xử thấy: Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó bị cáo là người có nhân thân tốt.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại
phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tệ nạn xã hội đã và đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội, gây nhiều ảnh
hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân, bộ mặt xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước. Trong đó, tệ nạn ma túy được xem là một trong những tệ nạn nguy hiểm hàng đầu cần được sớm loại bỏ và ngăn chặn sự lây lan trong cộng đồng. Mặt khác, ma túy không chỉ là một tệ nạn mà đó còn là "hung thần" cướp đi tuổi trẻ, tương lai, thậm chí là mạng sống của hàng triệu người trên thế thời. Do đó việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh,
chính trị tại địa phương và làm phát sinh thêm các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù
hợp được chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm
2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 còn quy định:
“…5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản…”
Tuy nhiên, qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
. Về Biện pháp tư pháp:
- Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe, BKS: 30G-162.56
mang tên Trần Thị Thanh H, địa chỉ: Xóm 1 CĐ, xã HB, huyện ĐA, thành phố HN. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Trần Thị Thanh H và bị cáo Vũ Văn T. Tuy nhiên, xét thấy đây là tài sản phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, của gia đình chị H, mặt khác việc bị cáo sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội chị H không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô trên cho chủ sở hữu là chị Trần Thị Thanh H quản lý, sử dụng là phù hợp được chấp nhận.
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong có 0,146
gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu H2 bên trong có chứa 0,326 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L1 bên trong có vỏ bao mẫu lưu kho; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L2 bên trong có vỏ bao mẫu lưu kho – Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.
. Về chi phí tố tụng: Bị cáo phải nộp án hình sự theo quy định của
pháp luật.
. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
. Về các vấn đề khác của vụ án:
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Vũ Văn T, quá trình điều tra và tại
phiên tòa, T khai do T nhờ 01 nam thanh niên không quan biết mua hộ cho T. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau là phù hợp.
Ngoài ra, trong vụ án này Vũ Văn T sử dụng chiếc xe ô tô nhãn hiệu
Hyundai Santafe BKS: 30G-162.56 của vợ là chị Trần Thị Thanh H để đi mua ma túy sử dụng cho bản thân nhưng chị H không biết và không tham gia bàn bạc với T về việc sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý với chị H là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38,
Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Áp dụng Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”
2. Về hình phạt:
2.1. Về hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ
ngày 06/10/2022.
- Tiếp tục tạm giam bị cáo Vũ Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày
tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.
2.2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo T.
3. Biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong có
0,146 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu ký hiệu H1; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu H2 bên trong có chứa 0,326 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu H2; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L1 bên trong có vỏ bao mẫu lưu kho; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L2 bên trong có vỏ bao mẫu lưu kho.
Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Phổ
Yên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 22/12/2022.
4. Về Chi phí tố tụng: Bị cáo Vũ Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm
nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm .
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt
tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Phổ Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Nhà tạm giữ Công an thành phố Phổ Yên; - Công an TP. Phổ Yên; - Chi cục THADS TP. Phổ Yên; - Bị cáo; Đương sự trong vụ án (nếu có); - Lưu hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hải Chiều |