vanban.org

Bản án 18/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sông Công, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 06/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Thắng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Luật Phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HS-ST
Ngày 06 - 4- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Hiến và bà Nguyễn Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thuỳ Dung- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2023, tại: Nhà Văn Hoá tổ dân phố Xuân Miếu 1, phường Cải Đan, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2023/ TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2023/ QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên:Trần Văn T,sinh ngày27/03/1973, tại: huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố G, thị trấn G, huyện P, tỉnh T. Nghề nghiệp: Lao động tự do;trình độ văn hoá (học vấn): 7/10; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam.Con ôngTrần Văn V (đã chết) và bà Hoàng Thị P; bị cáo có vợ là Nông Thị H sinh năm 1974; có 01 con sinh năm 1997.Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2005, Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Đánh bạc.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công từ ngày 16/12/2022 cho đến ngày 21/02/2023. Bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyêntừ ngày 21/02/2023 cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên Toà).

-Người chứng kiến:

+ Anh Đào Văn B sinh năm 1974, địa chỉ: Xóm A, xã B, TP S, tỉnh T.( Vắng mặt.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11h30 ngày 16/12/2022, Tổ công tác thuộc Đội điều tra Công an thành phố Sông Công làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự tại đường 262, thuộc xóm Chũng Na, xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Trần Văn T (sinh năm: 1973, trú tại: TDP Giang Khánh, thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 20E1 – 327.46 có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật, tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Trần Văn T thì T tự giác lấy từ túi áo phía trước bên trái đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng T khai nhận đó là ma túy loại Heroine, mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác mời người chứng kiến thu giữ, niêm phong số chất bột T khai nhận là ma túy rồi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 20E1 – 327.46.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công đã trưng cầu giám định số chất bột màu trắng thu giữ của Trần Văn T. Tại bản Kết luận giám định số 48/KL-KTHS ngày 24/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,237 gam.

Quá trình điều tra Trần Văn T khai nhận: Bản thân T nghiện ma túy loại Heroine từ năm 2019. Khoảng 7h30 ngày 16/12/2022, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, biển kiểm soát: 20E1 – 327.46 đi từ nhà đến khu vực bến xe khách Thái Nguyên cũ (thuộc phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên) để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây T gặp một người đàn ông không quen biết, khoảng 30 tuổi, đang đứng ở lề đường, T hỏi “để cho em một trăm”, ý là hỏi mua 100.000đ tiền ma túy loại heroine, đồng thời đưa cho người đàn ông 100.000đ, người này cầm tiền rồi đưa lại cho T 01 gói giấy bạc bên trong chưa ma túy loại heroine, rồi người bán ma túy bỏ đi. T cất giấu số ma túy vừa mua được vào túi áo ngực bên trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 11h cùng ngày khi đi đến khu vực xóm Chũng Na, xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công thì bị tổ công tác Công an thành phố Sông Công kiểm tra, biết không thể che giấu được hành vi phạm tội của mình, T tự nguyện giao nộp gói ma túy vừa mua. Sau đó tổ công tác tiến hành niêm phong gói ma túy, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa 0,227 gam chất ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu. 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A và gói giấy bạc được chuyển bảo quản theo đúng quy trình quản lý vật chứng.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20E1 – 327.46Cơ quan điều tra trả lại cho bà Nông Thị Hương là chủ sở hữu hợp pháp quản lý, sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 17/ CT – VKS ngày 13/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo T về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo T từ 24 đến 30 tháng tù; về hình phạt bổ xung miễn hình phạt tiền cho bị cáo; về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng còn lại trong vụ án đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công; buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/12/2022, tại xóm Chũng Na, xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, Trần Văn T đã có hành vitàng trữ trái phép 0,237 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác thuộc Đội điều tra tổng hợp Công an thành phố Sông Công phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Năm 2005, Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Đánh bạc. Bị cáo Tsinh ra, lớn lên tại địa phương, trưởng thành, lấy vợ, làm lao động tự do cho đến nay, bị cáo không có tiền án, tiền sự . Trong vụ án này, bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân xấu là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khoẻ và nhận thức xã hội nhất định, nhưng mắc tệ nạn ma tuý dẫn đến phạm tội với lỗi cố ý. Cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để xét xử bị cáo T mức án phạt tù phù hợp. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân, nên xét không cần thiết áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo T khai mua của một người không xác định được tên tuổi, địa chỉ. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20E1 -327.46Cơ quan điều tra trả lại cho bà Nông Thị Hương là (mẹ đẻ của Trần Tùng Lâm - là chủ sở hữu hợp pháp) quản lý, sử dụng là hợp lý.

Số ma túy thu giữ của bị cáo T còn lại sau giám định và những vậtdùng với mục đích để sử dụng ma túy trái phép là những vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo T bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo T được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 106, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2022.

* Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Văn T.

3. Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.

4. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A và gói giấy bạc;

- 01 (một) phong ký hiệu A1, bên trong chứa 0.227 gam chất ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ báo gói mẫu;

(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/3/2023 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công).

5. Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo Trần Văn T, báo cho bị cáo biết, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ