- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý A Thíu - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng số ma túy còn lại sau giám định (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận D, thành phố Hải Phòng…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HS-ST Ngày 20-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Thành Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Thanh Giản
Bà Trịnh Thị Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Trâm - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2023/HSST ngày 30 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:
Lý A T, sinh ngày 01 tháng 3 năm 2002 tại Hà Giang; Nơi ĐKHK: Thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Hà Giang; chỗ ở: Tổ dân phố N 1, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Thin C và bà Phàn Thị M; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2023 đến ngày 27/3/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lý A T: Bà Đoàn Thị H là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Đặng Trường G; vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Xuân K; vắng mặt.
* Tại đầu cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng gồm có Hội đồng xét xử, thư ký tòa án, Kiểm sát viên, Người bào chữa cho bị cáo Lý A T, người làm chứng, người chứng kiến.
* Tại đầu cầu thành phần: Tại nhà tạm giữ Công an quận D có bị cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 20/3/2023, Lý A T đang ở phòng trọ tại tổ dân phố N, phường A, quận D thì có một nam thanh niên tên thường gọi là "Đen" (không xác định được tuổi, địa chỉ cụ thể), trước đây làm cùng Công ty với T đến chơi, gạ bán ma túy cho T, T đồng ý và mua của "Đen" 400.000 đồng được 04 gói ma túy rồi dùng tờ tiền mệnh giá 2000 đồng để bọc 04 gói ma túy. Khoảng hơn 06 giờ ngày 21/3/2023, T lấy số ma túy nói trên cho vào túi quần bò phía sau bên phải mang đi làm để sử dụng dần, T đi bộ ra vỉa hè đường Mạc Đăng D để đón xe đi làm thì bị Công an quận D kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng.
Tại Bản kết luận giám định số 270/KL – KTHS(MT) ngày 24/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lý A T gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,11 gam, là loại Heroine
Tại cơ quan điều tra, Lý A T khai nhận hành vi như đã nêu trên.
Về vật chứng: Số tiền 2000 đồng và 01 phong bì niêm phong số 270MT/PC09 là ma túy còn lại sau giám định, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận D quản lý.
Đối với người có tên "Đen" bán ma túy cho Lý A T, quá trình điều tra chưa xác định được căn cước lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 29/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận D đã truy tố Lý A T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý A T với mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số 01 phong bì niêm phong số ma túy còn lại sau giám định, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Việc điều tra, truy tố và đưa ra xét xử đối với bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người đúng tội. Đồng ý về tội danh, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ áp dụng cho bị cáo của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, bị cáo là người thuộc dân tộc Dao, thuộc vùng kinh tế khó khăn, lượng ma túy tàng trữ ít nên đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo để ấn định mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát, đề nghị miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, miễn án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 21/3/2023, tại vỉa hè đường Mạc Đăng Doanh, thuộc tổ dân phố N 1, phường A, thành phố Hải Phòng, Lý A T bị bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép 0,11 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn ma túy gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm của người bào chữa cho bị cáo cơ bản phù hợp với quy định pháp luật và các tình tiết trong vụ án vì vậy được Hội đồng xét xử ghi nhận và xem xét khi quyết định hình phạt. Tuy nhiên về quan điểm cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự vì bị cáo là người thuộc dân tộc Dao, thuộc vùng kinh tế khó khăn, lượng ma túy tàng trữ ít là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, lượng ma túy tàng trữ chỉ có 0,11 gam Hêrôin (đủ yếu tố cấu thành tội phạm) nên chỉ cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt bằng mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy: Điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự quận D đang quản lý 01 phong bì niêm phong số ma túy còn lại sau giám định; tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng dùng để gói ma túy cơ quan công an đã nộp Kho bạc Nhà nước. Xét thấy, số ma túy liên quan đến việc phạm tội, là vật cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy; tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn và thuộc hộ cận nghèo nên theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, miễn giảm, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Lý A T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2023.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng số ma túy còn lại sau giám định (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận D, thành phố Hải Phòng), tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng (theo Giấy ủy nhiệm chi lập ngày 05/6/2023 giữa Công an quận D và Chi cục Thi hành án dân sự D).
Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, miễn giảm, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý A T.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận D; - VKSND TP Hải Phòng; - Cơ quan điều tra Công an Q.D; - Cơ quan THAHS quận D; - PV06; PC 10; Sở Tư pháp; - Chi cục THADS quận D; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; - Bị cáo; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Tòa án TP Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thành Ngọc |