- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Tiến D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Tiến D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HS-ST Ngày 06/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Thanh Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Văn Bé, bà Hoàng Thị Minh Tâm.
- Thư ký phiên toà: bà Tăng Thị Thủy - Thư ký toà án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Dương Thị Bích Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Tiến D; tên gọi khác: không; sinh ngày 10/9/1990, tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi cư trú: Khu 2, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Quang và bà: Bùi Thị Lan; vợ: không có; có 02 con; tiền sự: không; tiền án: ngày 01/6/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 28/12/2014; ngày 29/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 06/10/2021. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/02/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Phạm Đan T (vắng mặt).
- Người chứng kiến: anh Trần Văn H, anh Vũ Mạnh C (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00 giờ 10 phút ngày 04/02/2023, tại thôn Đông Hợp, xã Đông Xá, huyện Vân Đồn, Công an huyện Vân Đồn phát hiện, bắt quả tang Phạm Tiến D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi áo khoác ngoài bên trái của D 01 bóng đèn bên trong có 03 túi nilon, bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ của D 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát (BKS) 14S1-108.90 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo.
Tại bản Kết luận giám định số 156/KL-KTHS ngày 09/02/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Phạm Tiến D là ma túy, loại Methamphetamine; tổng khối lượng 0,41gam. Hoàn lại 0,26 gam ma túy sau giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Phạm Tiến D khai: Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do tối ngày 03/02/2023, bị cáo đến khu vực đầu thôn Đông Tiến, xã Đông Xá, huyện Vân Đồn gặp và mua của một người đàn ông tên D (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 túi ma túy với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo đi về nhà tại khu 2, thị trấn Cái Rồng rồi chia nhỏ ma túy ra và bỏ vào 03 túi nilon trong suốt cất giấu trong 01 bóng đèn màu trắng. Tiếp đó bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 14S1- 108.90 và mang theo số ma túy trên đi đến nhà nghỉ Hạ Đoan thuộc thôn Đông Hợp, xã Đông Xá, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh thuê phòng nghỉ để sử dụng ma túy; khi đến nhà để xe nhà nghỉ Hạ Đoan thì bị Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Ngoài ra bị cáo D còn khai: số ma túy bị cáo bị thu giữ nêu trên bị cáo dùng vào mục đích để sử dụng thỏa mãn nhu cầu bản thân và để bán khi có người hỏi mua. Nguồn gốc chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 14S1- 108.90 là do ngày 03/02/2023 bị cáo mượn của anh Phạm Đan T làm phương tiện đi lại nhưng không nói rõ cho anh Trường biết bị cáo mượn xe của anh Trường để mua bán ma túy. Đồng thời bị cáo còn khai hiện tại bị cáo có tên là Phạm Tiến D và con ông Phạm Văn Quang chứ không phải Phạm Văn D con ông Phạm Văn Lợi như trong hai bản án trước đó bị cáo bị xét xử, là do bị cáo không nhớ rõ các thông tin này trong giấy khai sinh của bị cáo, (vì bác của bị cáo là ông Bùi Văn Tương mới là người làm giấy khai sinh cho bị cáo) nên khai trong hai bản án trước như vậy; hiện tại tên của bị cáo là Phạm Tiến D và con ông Phạm Văn Quang là chính xác theo giấy khai sinh và căn cước công dân của bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Đan T vắng mặt tại phiên Tòa nhưng trong quá trình điều tra có lời khai tại hồ sơ thể hiện: Anh và bị cáo có quan hệ bạn bè chơi với nhau, ngày 03/02/2023 anh Trường cho bị cáo mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 14S1- 108.90 để đi lại, bị cáo không nói cho anh biết mượn xe của anh sử dụng vào việc gì, sau khi không thấy bị cáo trả xe anh mới biết bị cáo bị bắt vì liên quan đến mua bán ma túy. Anh có quan điểm anh đã được nhận xe mô tô trên và không có yêu cầu bồi thường gì.
Người chứng kiến là anh Trần Văn H và Vũ Mạnh C đều vắng mặt tại phiên Tòa có lời khai tại hồ sơ: các anh được chứng kiến việc cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang bị cáo Phạm Tiến D tàng trữ ma túy trong người. Sau đó được chứng kiến việc lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo và thu giữ vật chứng theo quy định.
Cáo trạng số 17/CT-VKSVĐ ngày 15/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn truy tố bị cáo Phạm Tiến D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Tiến D từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy: 0,26 gam ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 156/KL – KLHS, 01 bóng đèn 5W – 6500K - 460lm; 01 sim điện thoại gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu Vivo thu của bị cáo; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt lưng màu xanh có chữ “Vivo” đã qua sử dụng, (điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra loại máy và số IMEI).
Tại phiên tòa Phạm Tiến D thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa bị cáo Phạm Tiến D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 04/02/2023, các Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, bản ảnh vật chứng, biên bản khám xét và phù hợp với Bản kết luận giám định số 156/KL-KTHS ngày 09/02/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh; đồng thời còn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người chứng kiến cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 00 giờ 10 phút ngày 04/02/2023, tại thôn Đông Hợp, xã Đông Xá, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Tiến D có hành vi tàng trữ trái phép 0,41 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng và để bán thì bị Công an huyện Vân Đồn bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bản thân Phạm Tiến D có 02 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” ngày 01/6/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 28/12/2014; ngày 29/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 06/10/2021, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Như vậy, các chứng cứ buộc tội của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng số 17/CT-VKSVĐ ngày 15/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo, nên quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp lý.
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
...
q) Tái phạm nguy hiểm”
. Về tính chất, mức độ thực hiện tội phạm: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là chất gây nghiện độc hại, làm cho người nghiện ma túy không còn khả năng làm chủ bản thân, lệ thuộc ma túy về mặt thể chất, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, an ninh xã hội ở địa phương. Đây còn là nguyên nhân gây nên các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng do không chịu tu dưỡng bản thân, thiếu ý thức chấp hành pháp luật bị cáo đã bất chấp nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân và vụ lợi thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Do đó cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy cần thiết ấn định mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo ở trong khung đã truy tố và cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng vụ án: 0,26 gam ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 156/KL-KTHS; 01 bóng đèn và 01 sim điện thoại gắn trong điện thoại di động thu của bị cáo là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, và không còn giá trị sử dụng do đó cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật. 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt lưng màu xanh có chữ “Vivo” đã qua sử dụng (điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra loại máy và số IMEI) bị cáo sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát (BKS) 14S1-108.90 thu giữ của bị cáo, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Phạm Đan T, nên Hội đồng xét xử không đề cập.
. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Quyền kháng cáo: bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
. Liên quan trong vụ án: đối với người đàn ông bán ma túy cho Phạm Tiến D, quá trình điều tra không xác định được lai lịch nên không có cơ sở xử lý. Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Phạm Tiến D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: bị cáo Phạm Tiến D 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 04/02/2023.
Về vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,26 gam (không phẩy hai mươi sáu gam) ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 156/KL-KTHS; 01 bóng đèn 5W – 6500K - 460lm, 01 sim điện thoại gắn trong điện thoại thu của bị cáo.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt lưng màu xanh có chữ “Vivo” đã qua sử dụng (điện thoại không lên nguồn, không kiểm tra loại máy và số IMEI).
(Tình trạng các vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 23/BB-CCTHADS ngày 30/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh).
Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: bị cáo Phạm Tiến D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 06/6/2023; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Đan T vắng mặt, có quyền kháng cáo phần bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND huyện Vân Đồn; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan CSĐT- Công an huyện Vân Đồn; - Cơ quan THAHS - Công an huyện Vân Đồn; - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THADS huyệnVân Đồn; - Lưu hồ sơ; lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Hoàng |