- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Nh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: Đi m g khoản 2 Điều 249; đi m s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 331 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 333 Bộ luật tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HS-ST Ngày 23-02-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NH N D N HUYỆN TP, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bích Thị Kim Pháp
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Bích Lam
+ Bà Trần Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Đắc Quốc Tuân, Thư ký Tòa án huyện TP.
- Đ i diện Viện ki m sát nhân dân huyện TP tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền - Ki m sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2023 t i tr s Tòa án nhân dân huyện TP xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 194/2022/HSST, ngày 20 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn Nh, sinh ngày 14-4-1991, t i tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú: khu phố TG2, thị trấn PRC, huyện TP, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam, tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; con ông Lê Văn M và bà Nguyễn Thị Như H; anh, chị, em ruột: có 02 người; vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 06.11.2022, hiện đang bị t m giam t i Nhà t m giữ – Công an huyện TP “có mặt”
Người làm chứng: Lê Thị Th, sinh năm 1994; địa chỉ: khu phố TG02, thị trấn PRC, huyện TP, tỉnh Bình Thuận “có mặt”
NỘI DUNG VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lê Văn Nh là đối tượng nghiện ma túy. Vào chiều ngày 06.11.2022 do có nhu cầu sử d ng ma túy nên Nh điều khi n xe mô tô bi n số 86C1-412.76 đi đến khu vực Miếu VLthuộc thôn 01, xã BT, huyện TP đ mua ma túy sử d ng. Trên đường đi Nh gặp người tên Tèo (b n của Nh) đang đi bộ t i thị trấn PRC nên Nh rủ Tèo đi chơi cùng Nh. Tèo không biết Nh đi mua ma túy nên đồng ý điều khi n xe mô tô bi n số 86C1-412.76 ch Nh đi đến khu vực trước Miếu VLthì dừng l i. Nh đi vào bên trong Miếu VLgặp một người thanh niên hỏi mua 2.000.000 đồng Heroine, người thanh niên đồng ý. Người thanh niên đi ra b i cây khu vực Miếu VLrồi quay l i chổ Nh đưa cho Nh 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Scott, Nh m ra ki m tra thấy bên trong có Heroine nên đưa 2.000.000 đồng cho người thanh niên. Sau khi mua được Heroine Nh cầm trên tay phải đi ra chổ của Tèo đang đứng đợi và bảo Tèo điều khi n xe mô tô ch Nh về l i thị trấn PRC, huyện TP. Đến khoảng 15 giờ 50 phút ngày 06.11.2022, Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Liên Hương- Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Thuận phối hợp với Công an xã BT tiến hành tuần tra tuyến đường ĐT176 từ Ngã ba xã BT đến đo n đường trước Miếu VLthuộc thôn 01, xã BT, huyện TP phát hiện Tèo ch Nguyễn Văn Nh có biều hiện nghi vấn. Tổ Công tác ra tín hiệu ngừng xe đ ki m tra thì Tèo và Nh bỏ xe mô tô l i và bỏ ch y, Tèo ch y thoát còn Nh bị bắt giữ và có hành vi vứt bỏ gói thuốc lá hiệu Scott trong người xuống đất ngay trước hai chân t i vị trí của Nh bị khống chế thì bị tổ công tác phát hiện bắt giữ. Thu giữ dưới mặt đất phía trước 02 chân của Nh cách 0,5m có 01 gói thuốc lá hiệu Scott bên trong có 06 gói nylon không màu cột dây thun màu vàng (kích thước không giống nhau) bên trong 06 gói nylon đều có chất rắn d ng nén màu trắng (được ký hiệu là M1) và 05 đo n ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu (kích thước mỗi đo n giống nhau dài khoảng 1,5cm) bên trong 05 đo n ống nhựa đều có chất rắn d ng nén màu trắng (được ký hiệu là M2). Nh khai nhận đây là Heroine Nh cất giấu trong nguời và mang về nhà đ sử d ng thì bị phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của Lê Văn Nh 01 xe mô tô hiệu Nozza bi n số 86C1-41276.
T i bản kết luận giám định về ma túy số: 1190/KL-KTHS ngày 10.11.2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
+ Mẫu M1 gửi đến giám định có khối lượng 5,4551 gam là Heroine.
+ Mẫu M2 gửi đến giám định có khối lượng 0,2653 gam là Heroine.
Như vậy, Tổng khối lượng Heroine bị cáo đã tàng trữ là: 5,4551 gam + 0,2653 gam = 5,7204 gam.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người ph m tội quả tang, phù hợp với biên bản thu giữ các tang vật chứng và kết quả giám định chất ma túy có đủ cơ s xác định: Bị cáo đang cất giấu Heroine có tổng khối lượng 5,7204 gam đ sử d ng thì bị phát hiện bắt giữ.
Về tang vật chứng: Đã chuy n vào kho vật chứng của Chi c c Thi hành án dân sự huyện TP toàn bộ mẫu vật được hoàn l i sau giám định gồm: 01 mẫu giấy vỏ bao thuốc lá, 06 gói nylon màu trắng, 06 dây thun màu vàng, 05 đo n ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu và 5,3909 gam mẫu M1 còn l i sau giám định, 0,2176 gam mẫu M2 còn l i sau giám định (được niêm phong trong phong bì số 1190).
Riêng đối với xe mô tô hiệu Nozza bi n số 86C1-41276 đây là xe mô tô của Lê Thị Th (em ruột của Lê Văn Nh) cho Nh mượn. Th không biết Nh sử d ng xe mô tô vào việc ph m tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả l i cho Th theo quy định pháp luật.
T i phiên t a s th m:
kiến của đ i diện Viện ki m sát nhân dân huyện TP: Vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố theo cáo tr ng số: 06/CT-VKS-TP ngày 20/12/2022 của Viện ki m sát nhân dân huyện TP.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên b : Bị cáo Lê Văn Nh ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định t i đi m g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ: Đi m g khoản 2 Điều 249; đi m s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Nh mức án từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày bị bắt ngày 06/11/2022
* Biện pháp tƣ pháp: Căn cứ đi m a khoản 1 Điều 46; đi m c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; đi m a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
01 mẫu giấy vỏ bao thuốc lá, 06 gói nylon màu trắng, 06 dây thun màu vàng, 05 đo n ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu và 5,3909 gam mẫu M1 còn l i sau giám định, 0,2176 gam mẫu M2 còn l i sau giám định (được niêm phong trong phong bì số 1190).
Là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử d ng
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20-12-2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi c c thi hành án dân sự huyện TP).
Riêng đối với xe mô tô hiệu Nozza bi n số 86C1-41276 đây là xe mô tô của Lê Thị Th (em ruột của bị cáo) cho bị cáo mượn. Th không biết bị cáo sử d ng xe mô tô vào việc ph m tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả l i cho Th là phù hợp.
Bị cáo không tranh luận và đồng ý quan đi m truy tố của đ i diện Viện ki m sát nhân dân huyện TP.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình ph t.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra t i phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên tòa trên cơ s xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện ki m sát, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện ki m sát nhân dân huyện TP: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra c ng như t i phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: T i phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Văn Nh thừa nhận hành vi ph m tội của mình như nội dung cáo tr ng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra v án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo tr ng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo t i phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo t i Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người ph m tội quả tang, kết quả giám định chất ma tuý và các chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Như vậy, có đủ cơ s kết luận:
Do có nhu cầu sử d ng ma túy chiều ngày 06-11-2022, bị cáo điều khi n xe mô tô bi n số 86C1-412.76 đi đến khu vực Miếu VLthuộc thôn 01, xã BT, huyện TP đ mua ma túy sử d ng. Trên đường đi bị cáo gặp người tên Tèo (b n của bị cáo) đang đi bộ t i thị trấn PRC nên bị cáo rủ Tèo đi chơi cùng bị cáo. Tèo không biết bị cáo đi mua ma túy nên đồng ý điều khi n xe mô tô bi n số 86C1-412.76 ch Nh đi đến khu vực trước Miếu VLthì dừng l i. Bị cáo đi vào bên trong Miếu VLgặp một người thanh niên hỏi mua 2.000.000 đồng Heroine, người thanh niên đồng ý. Người thanh niên đi ra b i cây khu vực Miếu VLrồi quay l i chổ bị cáo đưa cho bị cáo 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Scott, bị cáo m ra ki m tra thấy bên trong có Heroine nên đưa 2.000.000 đồng cho người thanh niên. Sau khi mua được Heroine bị cáo cầm trên tay phải đi ra chổ của Tèo đang đứng đợi và bảo Tèo điều khi n xe mô tô ch Nh về l i thị trấn PRC, huyện TP. Đến khoảng 15 giờ 50 phút ngày 06.11.2022, Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Liên Hương- Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Thuận phối hợp với Công an xã BT tiến hành tuần tra tuyến đường ĐT176 từ Ngã ba xã BT đến đo n đường trước Miếu VLthuộc thôn 01, xã Bình Thuân, huyện TP phát hiện Tèo ch bị cáo có biều hiện nghi vấn. Tổ Công tác ra tín hiệu ngừng xe đ ki m tra thì Tèo và bị cáo bỏ xe mô tô l i và bỏ ch y, Tèo ch y thoát còn bị cáo bị bắt giữ và có hành vi vứt bỏ gói thuốc lá hiệu Scott trong người xuống đất ngay trước hai chân t i vị trí của bị cáo bị khống chế thì bị tổ công tác phát hiện bắt giữ. Thu giữ dưới mặt đất phía trước 02 chân của bị cáo cách 0,5m có 01 gói thuốc lá hiệu Scott bên trong có 06 gói nylon không màu cột dây thun màu vàng (kích thước không giống nhau) bên trong 06 gói nylon đều có chất rắn d ng nén màu trắng (được ký hiệu là M1) và 05 đo n ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu (kích thước mỗi đo n giống nhau dài khoảng 1,5cm) bên trong 05 đo n ống nhựa đều có chất rắn d ng nén màu trắng (được ký hiệu là M2). Bị cáo khai nhận đây là Heroine bị cáo cất giấu trong nguời và mang về nhà đ sử d ng thì bị phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của bị cáo 01 xe mô tô hiệu Nozza bi n số 86C1-41276.
T i bản kết luận giám định về ma túy số: 1190/KL-KTHS ngày 10.11.2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
+ Mẫu M1 gửi đến giám định có khối lượng 5,4551 gam là Heroine.
+ Mẫu M2 gửi đến giám định có khối lượng 0,2653 gam là Heroine.
Như vậy, Tổng khối lượng Heroine Lê Văn Nh đã tàng trữ là: 5,4551 gam + 0,2653 gam = 5,7204 gam.
Vì vậy, cáo tr ng số: 06/CT-VKS-TP ngày 20/12/2022 của Viện Ki m sát nhân dân huyện TP, truy tố bị cáo Lê Văn Nh về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo đi m g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như đã viện dẫn trong cáo tr ng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi ph m tội và mức hình ph t:
Ma tuý, là lo i độc dược là chất gây nghiện mà Nhà nước đã nghiêm cấm các ho t động sản xuất, tàng trữ, mua bán, chiếm d ng, sử d ng trái phép, đây là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ n n xã hội, các căn bệnh thế kỷ, làm lây truyền vi rút gây bệnh khó chữa, ảnh hư ng xấu đến sức khỏe và sự phát tri n giống nòi của dân tộc, thế nhưng các bị cáo đã coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi mua bán ma túy và chiếm đo t đ sử d ng cho bản Th, Hành vi của bị cáo rất nguy hi m cho xã hội, đã xâm ph m đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, nên cần phải xử lý bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, đ có đủ thời gian cải t o giáo d c bị cáo tr thành người tốt, công dân có ích cho xã hội đồng thời đ bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Việt Nam.
[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định t i Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra c ng như t i phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i đi m s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét chiếu cố khi xử lý, đ giảm nhẹ cho bị cáo một phần trong mức hình ph t, đ th hiện tính nhân đ o của pháp luật Nhà nước Xã hội chủ nghĩa.
[6] Biện pháp tư pháp: Căn cứ đi m a khoản 1 Điều 46; đi m c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; đi m a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 mẫu giấy vỏ bao thuốc lá, 06 gói nylon màu trắng, 06 dây thun màu vàng, 05 đo n ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu và 5,3909 gam mẫu M1 còn l i sau giám định, 0,2176 gam mẫu M2 còn l i sau giám định (được niêm phong trong phong bì số 1190).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20-12-20222 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi c c thi hành án dân sự huyện TP).
Riêng đối với xe mô tô hiệu Nozza bi n số 86C1-41276 đây là xe mô tô của Lê Thị Th (em ruột của bị cáo) cho bị cáo mượn. Th không biết bị cáo sử d ng xe mô tô vào việc ph m tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả l i cho Th là phù hợp.
Đối với người thanh niên khu vực Miếu VLđã bán Heroine cho bị cáo do chưa rõ lai lịch nên sẽ tiếp t c xác minh làm rõ, xử lý sau.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định t i khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; đi m a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Đối với quan đi m đề nghị của đ i diện Viện ki m sát nhân dân huyện TP t i phiên tòa là có căn cứ phù hợp với nhận định như trên, nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Đi m g khoản 2 Điều 249; đi m s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[2] Tuyên b : Bị cáo Lê Văn Nh ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[3] Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Nh mức án 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày bị bắt ngày 06/11/2022
[4] Biện pháp tƣ pháp: Căn cứ đi m a khoản 1 Điều 46; đi m c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; đi m a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 mẫu giấy vỏ bao thuốc lá, 06 gói nylon màu trắng, 06 dây thun màu vàng, 05 đo n ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu và 5,3909 gam mẫu M1 còn l i sau giám định, 0,2176 gam mẫu M2 còn l i sau giám định (được niêm phong trong phong bì số 1190).
Là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử d ng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20-12-2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi c c thi hành án dân sự huyện TP).
[5] Về án phí: Áp d ng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn Nh phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015.
Án xử công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày k từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện TP; - Công an huyện TP; - Chi c c THADS huyện TP; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PH N-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bích Thị Kim Pháp |