vanban.org

Bản án 18/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 16/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Tân P, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Triệu Tân P 02 (hai) năm tù giam, thời hạn tính từ ngày 31/01/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Tân P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Tân P, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HS-ST
Ngày 16 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Tiển;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nông Đình Công;

Bà Lương Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Lệ Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại Trường THPT huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Tòa án nhân dân huyện Tràng Định xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 17/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Triệu Tân P, tên gọi khác: Không; sinh ngày 21 tháng 8 năm 1991, tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh L; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Đức H (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 06/9/2022, bị Ủy ban nhân dân xã H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức: Cảnh cáo, đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa được xóa; về nhân thân: Đã bị xử lý trách nhiệm hình sự, đã được xóa án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định từ ngày 31/01/2023 cho đến nay, có mặt.

- Người làm chứng

Chị Nông Thị M, sinh năm 1993, vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 31/01/2023 Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Tràng Định phối hợp với Công an xã H, huyện Tràng Định tiến hành triệu tập Triệu Tân P để xét nghiệm làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện chất ma túy thì phát hiện tại sàn nhà trong góc phòng ngủ của P có 01 cục chất bột màu trắng được gói bằng giấy bạc, nghi là ma túy Heroin. P thừa nhận số chất bột màu trắng bị thu giữ là ma túy Heroin, P mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 01 cục chất bột màu trắng gói bằng giấy bạc màu trắng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme màu đen, số IMEI: 860466040713473 không lắp sim; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu VIVO mà xanh nhạt, số IMEI 1: 860993056564615; số IMEI 2: 86099356564607 lắp 02 sim số 0335.582.622 và 0399.847.651 và số tiền 600.000 đồng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Triệu Tân P, kết quả thu giữ: 02 xilanh đã qua sử dụng; 01 lọ nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN 3%; 02 mảnh giấy trẳng kẻ ô ly 02 x 05cm và 01 mảnh giấy trắng kẻ ô ly diện 02 x 02cm.

Tại kết luận giám định số 228/KL-KTHS ngày 02/02/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Triệu Tân P là ma túy Heroin, có khối lượng 0,829 gam (đã trừ bì).

Tại kết luận giám định số 242/KL-KTHS ngày 06/02/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Số tiền 600.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Triệu Tân P toàn bộ là tiền thật.

Tại Cơ quan điều tra, Triệu Tân P khai nhận: Do bản thân nghiện chất ma túy Heroin, nên buổi sáng ngày 18/01/2023 P một mình đi xe khách từ thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định đến khu vực chợ thuộc thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn mua với một người đàn ông làm nghề xe ôm (không rõ họ tên, địa chỉ) 01 gói ma túy Heroin với giá 2.000.000 đồng. Khi mua xong P cầm gói ma túy đi xe khách trở về tại thôn T, xã H, huyện tràng Định với mục đích để sử dụng dần cho bản thân. Đến ngày 31/01/2023 P chưa kịp sử dụng hết số ma túy Heroin trên thì bị Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Tràng Định phát hiện và bắt quả tang.

Với nội dung sự việc trên, tại Bản Cáo trạng số 19/CT-VKSTĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Triệu Tân P ra trước Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn để xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Triệu Tân P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ quá trình, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng cho bản thân, bị cáo đi xuống khu vực chợ thuộc thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc để mua ma túy sử dụng dần, phần còn lại chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng chức năng làm nhiệm vụ phát hiện bắt giữ. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử trả cho bị cáo 02 chiếc điện thoại di động gồm (01 chiếc nhãn hiệu VIVO; 01 chiếc nhãn hiệu Realme) và số tiền 600.000 đồng bị thu giữ, số tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Triệu Tân P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Triệu Tân P mức án từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi tư) tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, bị cáo không sở hữu tài sản gì.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong tang vật đựng ma túy Heroin sau giám định; 01 lọ nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN 3%; 02 mảnh giấy trẳng kẻ ô ly 02 x 05cm và 01 mảnh giấy trắng kẻ ô ly diện 02 x 02cm.

- Trả cho bị cáo: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme màu đen, không lắp sim; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu VIVO mà xanh nhạt, lắp 02 sim số 0335.582.622 và 0399.847.651 và số tiền 600.000 đồng (số tài sản trên không liên quan đến việc phạm tội).

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trong phần tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Tràng Định trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Việc vắng mặt chị Nông Thị M người làm chứng trong vụ án tại phiên tòa, trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai. Xét thấy việc vắng mặt chị Nông Thị M không ảnh hưởng đến quá trình xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Hồi 10 giờ 30 Pt ngày 31/01/2023, tại nhà của bị cáo Triệu Tân P ở thôn Thâm Luông, xã H, huyện T, tỉnh L, Tổ công tác Công an huyện Tràng Định phối hợp với Công an xã H, huyện Tràng Định bắt quả tang Triệu Tân P có hành vi tàng trữ trái phép 0,829 gam chất ma túy Heroin, mục đích để bản thân sử dụng. Nhận thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Triệu Tân P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây nguy hại đến trật tự, an ninh xã hội. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, tuy nhiên nó gây nguy hại rất lớn cho xã hội về nhiều mặt, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo bị nhân dân lên án mạnh mẽ và bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo gây ra cần phải bị xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định, mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân bị cáo Triệu Tân P: Bị cáo có nhân thân xấu, tại bản án số 23/2014/HSST ngày 13/8/2014 Triệu Tân P bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định xét xử 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, bị cáo đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích; đến ngày 06/9/2022, P bị Ủy ban nhân dân xã H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức: Cảnh cáo, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, mà lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo đã từng đi nghĩa vụ quân sự, học tập và rèn luyên trong môi trường kỷ luật quân đội nghiêm khắc, đáng lẽ phải sống mẫu mực, nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện cho bản thân, lười lao động, bỏ mặc gia đình, sớm sa ngã vào con đường tệ nạn xã hội - mắc nghiện ma túy; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Từ đánh giá trên khi lượng hình cần xem xét nhân thân của bị cáo để ra mức án tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra. Cần xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, bị cáo không sở hữu tài sản gì (thể hiện tại biên bản xác M ngày 12/3/2023 tại Ủy ban nhân dân xã H). Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người bán ma túy cho cho bị cáo Triệu Tân P tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, do không có đầy đủ thông tin nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ cơ sở để điều tra xử lý.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy Heroin sau giám định; 01 lọ nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN; 03 mảnh giấy trẳng kẻ ô ly; trả cho bị cáo Triệu Tân P 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme màu đen, không lắp sim; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu VIVO màu xanh nhạt, lắp 02 sim số 0335.582.622 và 0399.847.651 và số tiền 600.000 đồng (số tài sản trên không liên quan đến việc phạm tội). Toàn bộ số tài sản trên tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, đề nghị về mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Triệu Tân P phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Triệu Tân P;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Tân P, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Triệu Tân P 02 (hai) năm tù giam, thời hạn tính từ ngày 31/01/2023.

3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

4. Xử lý vật chứng:

4.1. Tịch thu tiêu hủy 0,761 gam chất ma túy Heroin đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy hoàn lại sau giám định, có chữ ‘‘Tang vật nghi ma túy thu giữ của Triệu Tân P’’, có chữ ký cùng tên của giám định viên, Bùi Anh Thái trợ lý giám định và hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết); 01 lọ nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN 3%; 02 mảnh giấy trẳng kẻ ô ly diện 02 x 05cm và 01 mảnh giấy trắng kẻ ô ly diện 02 x 02cm.

4.2. Trả cho bị cáo Triệu Tân P 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme màu đen, số IMEI: 860466040713473 không lắp sim; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu VIVO mà xanh nhạt, số IMEI 1: 860993056564615; số IMEI 2: 86099356564607 lắp 02 sim số 0335.582.622; 0399.847.651(cũ đã qua sử dụng) và số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng đựng trong 01 (một) phong bì thư có chữ ‘‘600.000 (sáu trăm nghìn) đồng thu giữ của Triệu Tân P ngày 31/01/2023’’ (cũ), mặt sau có chữ ký cùng tên của các thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu của Công an thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, mặt trước có chữ ký cùng tên của giám định viên Nguyễn Kim Chi, bên trong có 03 (ba) tờ loại mệnh giá 200.000 (hai trăm nghìn) đồng (số tài sản trên không liên quan đến việc phạm tội). Toàn bộ số tài sản trên tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng trên hiện được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn theo nội dung biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/4/2023).

5. Về án phí: Buộc bị cáo Triệu Tân P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ