vanban.org

Bản án 18/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ Tuyên án 23/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

*Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Huỳnh Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? *Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG ĐIỀN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HS-ST
Ngày: 23/3/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Tạ Quang Đức.

2/ Ông Nguyễn Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Cum Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Lưu Minh Cường – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 3 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ và Khu vực làm việc Nhà Tạm giữ Công an huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm (trực tuyến) công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Văn T, sinh ngày 02/4/1998. Đăng ký thường trú: TB, GX, PĐ, CT.; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1975 (sống) và bà Lâm Thị Th, sinh năm 1976 (sống); bị cáo có 01 người em; vợ Nguyễn Trần Huỳnh N, sinh năm 1999, con có 01 sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Trần Huỳnh N, sinh năm 1999.

Địa chỉ: TB, GX, PĐ, CT.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa trực tuyến, chị N có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 18/11/2022, Huỳnh Văn T điều khiển xe môtô biển số 65E1 – 349.28 để đi đến Công an xã Giai Xuân lấy thông tin làm căn cước công dân cho vợ. Do T nghiện ma túy trên đường đi T sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo A93 gọi cho Đ (không rõ lai lịch) nhờ mua dùm 800.000 đồng ma túy, Đ kêu T chạy ra quán cà phê Tiến Xưa ở đường 3/2 để nhận ma túy. T đến quán cà phê Tiến Xưa thì Toàn (không rõ lai lịch) chạy xe đến giao 02 gói ma túy cho T, T bỏ vào túi quần trước bên trái, rồi đưa 800.000 đồng cho Toàn.

Khoảng 12 giờ cùng ngày T điều khiển xe về đến Công an xã Giai Xuân thuộc ấp Thới An, xã Giai Xuân, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ để nhận giấy xác nhận căn cước công dân cho vợ, do hết giờ làm việc nên T đi ra sân chuẩn bị lấy xe về thì bị lực lượng Công an nghi ngờ kiểm tra khám xét túi quần bên trái có 02 gói ma túy đá.

* Vật chứng thu giữ: 02 gói nilon chứa tinh thể không màu gồm 01 gói nẹp miệng có viền màu đỏ và 01 gói nẹp miệng có viền màu xanh; 01 xe môtô biển số 65E1-349.28; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A93 màu xanh (kèm 02 sim số 0836263469, 0921264918) và tiền Việt Nam 120.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 383/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ:

+ Gói 1: Mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,2745 gam.

+ Gói 2: Mẫu ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 2,1555 gam.

N vậy, tổng khối lượng là 2,4300 gam loại Methamphetamine.

Đối với xe môtô biển số 65E1 – 349.28 chủ sở hữu hợp pháp là của chị Nguyễn Trần Huỳnh N (vợ của T), vào ngày 18/11/2022 chị N có cho T mượn xe để đi lấy giấy tờ, T sử dụng để đi mua ma túy chị N không biết, số tiền 120.000 đồng chị N đưa T mua thức ăn cho con nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên và số tiền 120.000 đồng cho chị N.

Đối với điện thoại di động hiệu Oppo A93, T thừa nhận có sử dụng gọi mua ma túy nhưng T quên mật khẩu nên không kiểm tra được nội dung bên trong

Đối với người tên Đ và Toàn (không xác định được lai lịch) là bạn của T nhưng không biết địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa tiến hành làm việc được, sẽ tiếp tục xác minh, điều tra đủ căn cứ xử lý sau.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Huỳnh Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi nêu trên, mục đích mua ma túy về để sử dụng.

Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSPĐ ngày 27/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:

Bị cáo Huỳnh Văn T khai nhận, bị cáo tàng trữ ma túy để mang về sử dụng thì bị bắt. Bị cáo nhận biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố về tội danh và điều khoản áp dụng. Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật tự công cộng. Vì vậy, cần được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng N tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 tuyên bị cáo T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy gói niêm phong số 383/KL-KTHS ngày 25 tháng 11 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng M1: 0,2364 gam; M2: 2,1200 gam và 02 sim số 0836263469, 0921264918.

- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động hiệu Oppo A93 màu xanh.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Điền, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo T tại phiên toà sơ thẩm hôm nay phù hợp với các biên bản ghi lời khai và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định vào khoảng 10 giờ ngày 18/11/2022, bị cáo T điều khiển xe môtô biển số 65E1 – 349.28 để đi đến Công an xã Giai Xuân lấy thông tin làm căn cước công dân cho vợ. Do T nghiện ma túy trên đường đi T sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo A93 gọi cho Đ nhờ mua dùm 800.000 đồng ma túy, Đ kêu T chạy ra quán cà phê Tiến Xưa ở đường 3/2 để nhận ma túy. T đến quán cà phê Tiến Xưa thì Toàn chạy xe đến giao 02 gói ma túy cho T, T bỏ vào túi quần trước bên trái, rồi đưa 800.000 đồng cho Toàn. Khoảng 12 giờ cùng ngày T điều khiển xe về đến Công an xã Giai Xuân để nhận giấy xác nhận căn cước công dân cho vợ, do hết giờ làm việc nên T đi ra sân chuẩn bị lấy xe về thì bị lực lượng Công an nghi ngờ kiểm tra khám xét túi quần bên trái có 02 gói ma túy đá.

Tại Kết luận giám định số 383/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ:

+ Gói 1: Mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,2745 gam.

+ Gói 2: Mẫu ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 2,1555 gam.

Tổng khối lượng là 2,4300 gam loại Methamphetamine, khối lượng còn lại sau giám định là 2,3564 gam.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Huỳnh Văn T đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật tự công cộng. Nhà nước nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân trồng, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý. Bản thân bị cáo nhận biết hành vi của mình là trái pháp luật, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân mà bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng thì bị bắt cùng tang vật. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người đúng tội.

Bản thân bị cáo T là người trưởng thành, bị cáo biết tác hại của ma túy và việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng. Thiết nghĩ cần có một mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng N tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng: Đối với ma túy cần tịch thu tiêu hủy; đối với điện thoại do bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung công. Đối với 02 sim số do không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

*Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Huỳnh Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2022.

Về xử lý vật chứng:

*Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy gói niêm phong số 383/KL-KTHS ngày 25 tháng 11 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ có khối lượng còn lại sau giám định là 2,3564 gam; và 02 sim số 0836263469, 0921264918.

- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động hiệu Oppo A93 màu xanh.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Huỳnh Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ