- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Kim L phạm tội theo điều 260 BLHS - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Kim L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HS-ST Ngày: 05 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Thuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Lê Đăng Huấn - Giáo viên nghỉ hưu
Ông: Phan Ngọc Đài - Giáo viên nghỉ hưu
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Thu Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Bà Lê Trịnh Xuân Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/HSST ngày 17 tháng 4 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Kim L - Sinh ngày: 02/02/1980, tại: tỉnh B; Nơi ĐKHKTT và nơi ở trước khi phạm tội: Thôn K, xã C, huyện P, tỉnh B; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Hà Văn K, sinh năm: 1950; Họ tên mẹ: Trần Thị Minh H (đã chết); Họ tên vợ: Bùi Thị V, sinh năm 1980; Con: Có 04 người con: Lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2016.
Bị cáo, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/01/2023 cho đến nay. Bị cáo cáo mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người bị hại: Cháu Hoàng Thị Ái H, sinh năm: 2006 (Chết)
Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
Ông Hoàng Văn H, sinh năm: 1972 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn X, xã P, huyện K, Đ.
Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Trung S
Địa chỉ: Nguyễn Thái H, phường N, thành phố Q, B.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Phạm Trung C - Chức vụ: Giám đốc (Vắng mặt)
Người làm chứng:
Anh Ngô Hoàng T, sinh năm: 2006 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện K, Đ.
Anh Bùi Tấn D, sinh năm: 2005 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố, thị trấn K, huyện K, Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hà Kim L là tài xế lái xe chở hàng cho Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Trung S, trụ sở tại đường Nguyễn Thái H, phường N, thành phố Q, tỉnh B.
Trưa ngày 31/10/2022, L điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-181.88 kéo theo Sơ mi rơ moóc BKS: 77R-017.99 đi từ huyện K, tỉnh Đ về thành phố N, tỉnh K. Khoảng 14 giờ 00 phút L điều khiển xe đến ngã tư đèn đỏ trung tâm thị trấn K, huyện K rồi rẽ phải vào đường tỉnh lộ 3, khu vực có một số trường học ở hai bên đường. Khi đến gần cổng trường Trung học phổ thông Phan Bội C, L phát hiện cháu Hoàng Thị Ái H, sinh năm 2006, trú tại thôn X, xã P, huyện K (học sinh trường Trung học phổ thông Phan Bội C) điều khiển xe đạp điện đi qua đường nhưng L đã không giảm tốc độ được để có thể dừng lại an toàn nên đã xả ra va chạm với xe đạp điện do cháu H điều khiển. Hậu quả: Cháu H tử vong.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 417/TTh-TTPY ngày 30/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đăk Lăk đối với cháu Hoàng Thị Ái H, kết luận:Ngưng hô hấp, tuần hoàn do Chấn thương sọ não nặng (Vỡ nát hộp sọ, tổ chức não thoát ra ngoài)/Nhiều thương tích nặng khác do tai nạn giao thông.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2023 của Hội đồng định giá Công an huyện K kết luận: Xe đạp điện loại Asama bị hư hỏng tại thời điểm ngày 31/10/2022 là 2.500.000 đồng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi tiến hành khám nghiệm là đoạn đường thẳng tại Km23+500, đường Tỉnh lộ 3 thuộc TDP, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đ. Đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 860cm, nằm theo chiều Bắc - Nam. Hường Bắc đi ra quốc lộ 29; Hướng Nam đi về huyện E; Hướng Đông giáp trường Trung học cơ sở nội trú huyện K; Hướng Tây giáp trường Trung học phổ thông Phan Bội C.
Hai bên đường là vỉa hè lát gạch rộng 350cm, đường có vạch vàng, đứt quãng chia đường làm 2 chiều bằng nhau.
Lấy mép đường bên trái hướng huyện Krông Năng đi huyện E và trụ điện số BTTĐ LT-14A làm mép chuẩn và mốc chuẩn.
Vị trí phương tiện và dấu vết:
Vị trí nạn nhân: Trên mặt đường thấy 01 tử thi là nữ giới, nằm ngửa. Đầu quay về hướng Đông Bắc, chân quay về hướng Tây Nam. Tâm của đầu cách mép chuẩn 792cm, cách trục 3 bên trái xe ô tô 230cm về hướng Tây Bắc, hai chân cách mép chuẩn là 860cm.
Xe đạp điện: Trên mặt đường, dưới gầm xe ô tô thấy 01 xe đạp điện, màu đỏ - đen, nằm ngã nghiêng về bên trái. Đầu xe quay về hướng Tây, đuôi xe quay về hướng Đông. Trục trước cách mép chuẩn 850cm, cách mốc chuẩn 1.340cm, trục sau cách mép chuẩn 690cm, cách mốc chuẩn 1.378cm. Bên cạnh xe đạp điện thấy 01 bình ắc quy, màu xanh da trời, hiệu Natsionnat Battery, kích thước (15x9,5x9,5)cm, rời hoàn toàn với xe đạp điện.
Xe ô tô màu cam biển kiểm soát 77C-181.88 kéo theo Sơ mi rơ moóc màu xanh đen, biển kiểm soát 77R-017.99 dựng đứng trong trạng thái không hoạt động. Đầu xe quay về hướng Nam, đuôi xe quay về hướng Bắc. Trục 1, bên phải cách mốc chuẩn 1.776cm, trục 3 bên phải cách mốc chuẩn 1.343, trục 4 bên phải cách mốc chuẩn 800cm, trục 6 bên phải cách mốc chuẩn 644cm. Trục 1 bên phải cách mép chuẩn 643cm; Trục 3 bên phải cách mép chuẩn 647cm; Trục 4 bên trái cách mép chuẩn 633cm; Trục 6 bên trái cách mép chuẩn 620cm.
Trên mặt đường thấy 01 bình ắc quy, màu xanh da trời, hiệu Natsionnat Battery, kích thước (15x9,5x9,5)cm, cách mép chuẩn 500cm, cách trục 6 bên trái xe ô tô 625cm về hướng Đông Nam.
Vùng mảnh vỡ: Dưới gầm xe ô tô về hướng Bắc thấy 01 (một) vùng mãnh vỡ trên mặt đường, trong vùng có kích thước (780x250)cm, gồm 01 giỏ xe đạp điện màu đen, nhiều mảnh nhựa vỡ, nhiều kích thước và hình dạng khác nhau. Các mảnh vỡ xa nhất cách mép chuẩn 860cm, dọc theo mép đường. Đầu vùng mảnh vỡ hướng Bắc cách trục 6 bên phải 190cm về hướng Bắc.
Dấu vết thắng thứ nhất: Trên mặt đường thấy dấu vết thắng thứ nhất màu đen chiều từ Bắc xuống Nam dạng liền, thẳng 3/4 đầu và cong về hướng Tây Nam ở 1/4 cuối gồm 2 nhóm.
Nhóm 1: Gồm 02 dấu vết cách nhau 20cm, trong vùng có kích thước (1650x54)cm. Điểm cuối bên phải cách mép chuẩn 860cm, điểm đầu bên trái cách mép chuẩn 697cm.
Nhóm 2: Có kích thước (2070x60)cm gồm 02 dấu vết chồng lấn một phần lên nhóm 1. Cuối bên phải nhóm 2 cách cuối nhóm 1 là 310cm, cách mép chuẩn 833cm. Đầu bên phải nhóm 2 cách mép chuẩn 700cm.
Dấu vết thắng thứ 2 có số lượng, đặc điểm, chiều hướng, hình dạng như dấu vết thắng thứ nhất.
Nhóm 1: Gồm 2 dấu vết, có kích thước (1550x54)cm. Điểm cuối bên trái cách mép chuẩn 633cm, ngay vị trí tương ứng thành sau xe ô tô trên mặt đường. Điểm cuối bên trái cách mép chuẩn 483cm.
Nhóm 2: Có kích thước (2015x58)cm, gồm 02 dấu vết chồng 1 phần lên nhóm 1. Điểm cuối bên trái cách mép chuẩn 637cm, cách điểm cuối nhóm 1 320cm. Điểm cuối bên trái cách mép chuẩn 515cm. Mặt trong của hai dấu vết thắng cách nhau 130cm.Cách góc sau bên phải xe ô tô 150cm, cách mép chuẩn 900cm, trên vỉa hè thấy 01 đôi dép màu trắng đen, kích thước mỗi chiếc là (27x9,5)cm.
Dấu vết cày, chà thứ nhất: Trên mặt đường dưới gầm xe ô tô thấy 01 dấu vết cày, chà, dạng đường thẳng ở khúc đầu và dạng đường cong ở đoạn cuối, dạng đứt quãng, chiều từ Bắc xuống Tây Nam, kích thước (419x13)cm. Điểm cuối cách mép chuẩn 871cm, cách trục trước xe đạp điện 67cm. Điểm đầu cách mép chuẩn 801cm.
Dấu vết cày, chà thứ 2: Trên vỉa hè thấy 01 dấu vết cày, chà dạng đường thẳng, đứt quãng, chiều từ Bắc xuống Nam, kích thước (391x14)cm. Đầu cách mép chuẩn 870cm, ngay dưới lốp ngoài trục 6 bên phải, cuối cách mép chuẩn 882cm.
Dấu vết sơn: Trên mặt đường thấy 01 dấu vết bám sơn màu xanh da trời chiều từ Bắc xuống Nam, kích thước (2x1,3)cm, cách mép chuẩn 695cm, cách cuối nhóm 1, dấu vết thắng 2 là 20cm về hướng Nam.
Hệ thống biển báo: Cách trục 6 xe ô tô về hướng Bắc, bên phải đường có 03 biển báo thứ tự từ Bắc xuống Nam lần lượt là: Biển báo giao nhau với đường không ưu tiên, biển nguy hiểm trẻ em qua đường 200m, biển phần đường giành cho người đi bộ, cách trục 6 xe ô tô là 8630cm.
Cách trục 1 xe ô tô về hướng Nam là 4415cm bên trái đường có 02 biển báo: Biển nguy hiểm trẻ em qua đường 200m và biển phần đường giành cho người đi bộ.
Xác định điểm va chạm:Tâm vùng va chạm đầu tiên giữa 02 phương tiện tương ứng trên mặt đường cách mép chuẩn là 695cm; cách tâm dấu vết sơn là 65cm về hướng Bắc; cách mặt hướng Nam vạch sơn đường dành cho người đi bộ là 63cm về hướng Nam.
Vật chứng vụ án đã thu giữ: 01 xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-181.88 kéo theo Sơ mi rơ moóc BKS: 77R-017.99; 01 xe đạp điện và một số mảnh vỡ xe đạp điện.
Bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 07/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Hà Kim L về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Hà Kim L khai nhận về hành vi như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như đã công bố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh rõ hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hà Kim L từ 15 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ; Điều 46 BLHS, khoản 1, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 606 Bộ luật dân sự: Đề nghị công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại 01 xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-181.88 kéo theo Sơ mi rơ moóc BKS: 77R-017.99 cho Trần Phạm Trung C là chủ sở hữu. Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K trả lại xe đạp điện và một số mảnh vỡ xe đạp điện cho người đại diện theo pháp luật ông Hoàng Văn H. Công nhận trả cho Hà Kim L 01 Căn cước công dân và 01 bằng lai xe hạng FC đều mang tên Hà Kim L.
Công nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 150.000.000 đồng. Buộc bị cáo bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo không có tranh luận, bào chữa gì với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K. Bị cáo nói lời sau cùng xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 31/10/2022, Hà Kim L điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-181.88 kéo theo Sơ mi rơ moóc BKS: 77R-017.99 đi theo hướng từ thị trấn K, huyện K đến xã P, huyện K. Khi đến Km23 + 800, Tỉnh lộ 3, thuộc TDP, thị trấn K là khu vực trường học nhưng không giảm tốc độ nên xảy ra va chạm với xe đạp điện do cháu Hoàng Thị Ái H, sinh năm 2006, trú tại thôn X, xã P, huyện K khiển đi qua đường. Hậu quả dẫn đến cháu Hảo tử vong. Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm vào khoản 5 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVTngày 29 tháng 08 năm 2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ gây hậu quả chết người.
Tại khoản 5 Điều 5 Thông từ 31/2019TT-BGTVT ngày 29 tháng 08 năm 2019 của Bộ giao thông vận tải quy định:
“Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
5. Qua khu vực có trường học…”
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự qui định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) Làm chết người;
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo khi có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo khi điều khiển xe ô tô đầu kéo đã thiếu chú ý quan sát, đã không giảm tốc độ khi đi qua khu vực trường học dẫn đến va chạm với cháu Hảo, hậu quả của hành vi bị cáo gây ra là làm cho bị hại là cháu Hoàng Thị Ái H tử vong. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại tính mạng của người khác. Vì vậy, cần phải có một hình phạt cho tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo tại phiên toà khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ các chi phí cho gia đình bị hại. Đại diện bị hại có đơn xin bại nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy trong vụ án này, tai nạn xảy ra bị hại cũng có một phần lỗi là qua đường nhưng không quan sát các xe đang đi tới, không đảm bảo an toàn là vi phạm khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ. Vì vậy cũng cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự, để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật Nhà nước. HĐXX xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cho bị cáo cải tạo ở ngoài xã hội một thời gian cũng đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 BLHS, khoản 1, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 606 Bộ luật dân sự: Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại: 01 xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-181.88 kéo theo Sơ mi rơ moóc BKS: 77R-017.99 cho Trần Phạm Trung C là chủ sở hữu hợp pháp. Trả lại xe đạp điện và một số mảnh vỡ xe đạp điện cho người đại diện theo pháp luật ông Hoàng Văn H. Trả cho Hà Kim L 01 Căn cước công dân và 01 bằng lai xe hạng FC đều mang tên Hà Kim L.
Tại phiên tòa đại diện bị hại ông H yêu cầu bồi thường thêm số tiền 10.000.000 đồng ngoài số tiền 150.000.000 đồng đã bồi thường. Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện, thỏa thuận bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của đại bị hại. Xét thấy sự thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo đại diện bị hại tại phiên tòa là tự nguyện và không trái pháp luật nên chấp nhận. Công nhận bị cáo đã bồi thường số tiền 150.000.000 đồng, bị cáo còn phải bồi thường 10.000.000 đồng cho đại diện bị hại.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Kim L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Xử phạt bị cáo Hà Kim L 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hà Kim L cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 606 Bộ luật dân sự:
Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại: 01 xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-181.88 kéo theo Sơ mi rơ moóc BKS: 77R-017.99 cho ông Trần Phạm Trung C là chủ sở hữu hợp pháp. Trả lại 01 xe đạp điện và một số mảnh vỡ xe đạp điện cho người đại diện theo pháp luật ông Hoàng Văn H. Trả cho Hà Kim L 01 Căn cước công dân và 01 bằng lai xe hạng FC đều mang tên Hà Kim L.
Công nhận bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng, bị cáo còn phải bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho gia đình bị hại.
3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo Hà Kim Long phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quyết định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk - Sở Tư Pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Năng - Công an huyện Krông Năng; - THADS huyện Krông Năng; - Bị cáo - Các đương sự; -Lưu HSVA, VPCQ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Thuấn |