vanban.org

Bản án 18/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 21/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo (ngày 14/12/2022). * Về vật chứng vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Trần Quốc T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯƠNG SƠN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HS-ST
Ngày: 21/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Hải; ông Nguyễn Khắc Hải.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Đức Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Cao Anh Bắc - Kiểm sát viên.

Vào hồi 13 giờ 30 phút, ngày 21 tháng 3 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa trực tuyến công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 14/2023/HSST, ngày 06 tháng 3 năm 2023; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HS, ngày 10/3/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Quốc T; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 26/6/1991; tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn M, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; chức vụ đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T và bà Võ Thị V (Đã chết); Vợ: Trần Thị T; con: chưa có; anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ 03; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 30/12/2010 bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 36 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt; ngày 30/3/2017 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 30 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/12/2022, đến ngày 20/12/2022 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Trần Thị T, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà

Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến: Ông Phan Văn B, sinh năm: 1962; nơi cư trú: Tổ dân phố 5, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có ma túy để sử dụng nên vào khoảng 09 giờ ngày 07/12/2022, Trần Quốc T đi nhờ xe của một người dân qua đường lên thị trấn P rồi đón ô tô khách lên khu vực cửa khẩu quốc tế C để tìm mua ma túy về sử dụng. Khoảng 10 giờ cùng ngày khi đến khu vực cầu Eo C thuộc thôn H, xã S, huyện H thì T xuống xe và gặp một người đàn ông giới thiệu người Lào không biết tên, địa chỉ cụ thể đang đứng phía bên trái cạnh chân cầu, theo hướng từ trên cửa khẩu quốc tế C đi xuống xã S. T đi lại đứng nói chuyện một lúc rồi hỏi người đàn ông đó: “Có hồng phiến bán không”, người đàn ông đó trả lời: “Có 200 viên hồng phiến giá 8.000.000 đồng”, T đồng ý mua, người đàn ông đó bảo T đứng chờ, còn người đó đi bộ theo con đường nhỏ vào trong rừng. Khoảng 15 phút sau quay ra đưa cho T 01 túi ni lông màu xanh, T mở ra kiểm tra thấy bên trong có nhiều viên hồng phiến và một gói ni lông màu đen bên trong có 10 viên hồng phiến, T bỏ vào túi quần rồi lấy tiền trả cho người đàn ông đó. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày T đón xe khách về nhà, khi đến trước cổng tì mở túi ni lông màu xanh ra kiểm tra thấy bên trong có 200 viên hồng phiến nên gói lại cất dấu dưới mép cửa cạnh hàng rào của gia đình, còn gói ni lông màu đen đựng 10 viên hồng phiến T cất giấu trong người rồi sử dụng hết. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 14/12/2022 T đi ra hàng rào trước cổng lấy túi ni lông dựng 200 viên hồng phiến cất dấu trước đó cầm ở bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại SH, màu trắng, BKS 38H1 – 381.B (xe mang tên Trần Thị T vợ T, chị T không biết T lấy xe đi sử dụng ma túy) chạy lên thị trấn P, huyện H để tìm địa điểm sử dụng. Khoảng 19 giờ cùng ngày khi đi đến khu vực công trình dự án B, thuộc địa phận tổ dân phố 4, thị trấn P thì gặp lực lượng chức năng Công an huyện H và Công an thị trấn P tuần tra yêu cầu kiểm tra hành chính, phát hiện ở trong lòng bàn tay trái có một gói ni lông màu xanh bên trong đựng 200 viên hồng phiến (nghi là ma túy). Lực lượng công an đã thu giữ tang vật, đưa đối tượng về trụ sở Công an huyện H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản kết luận giám định số: 17/GĐMT-PC09 ngày 20/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận:

- Các viên nén màu hồng được đựng trong một túi ni lông màu xanh gửi giám định là ma túy, có khối lượng 19,6905 gam là Methamphetamine.

Vật chứng vụ án: - 19,1812 gam Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định được đựng trong gói ni lông màu xanh được cho vào 01 túi ni lông trong suốt cùng toàn bộ vỏ bao gói cũ được niêm phong trong 01 phong bì thu màu trắng có dòng chữ “Công an tỉnh Hà Tĩnh, phòng ký thuật hình sự”, rồi dán kín lại, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và bị cáo.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH, màu trắng, biển kiểm soát 38H1 – 381.B (mang tên Trần Thị T), xe đã qua sử dụng.

Các vật chứng nêu trên, đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 38 0000B do Công an xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 09/11/2022 mang tên Trần Thị T (Tạm giữ cùng hồ sơ vụ án).

Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKS-HS, ngày 28 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Trần Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc T mức án từ 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng đến 06 (Sáu) năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 14/12/2022).

Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: - 19,1812 gam Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định được đựng trong gói ni lông màu xanh được cho vào 01 túi ni lông trong suốt cùng toàn bộ vỏ bao gói cũ được niêm phong trong 01 phong bì thu màu trắng có dòng chữ “Công an tỉnh Hà Tĩnh, phòng ký thuật hình sự”, rồi dán kín lại, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và bị cáo.

- Trả lại cho chị Trần Thị T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH, màu trắng, biển kiểm soát 38H1 – 381.B (mang tên Trần Thị T), xe đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 38 0000B do Công an xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 09/11/2022 mang tên Trần Thị T.

Bị cáo Trần Quốc T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Người chứng kiến ông Phan Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không có lý do. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của người chứng kiến ông Phan Văn B không ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án nên quyết định xét xử theo thủ tục chung.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, kiểm sát viên quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định Trần Quốc T mua 19,6905 gam Mathamphetamine nhằm mục đích để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không có gì oan sai.

Vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý. Methamphetamine là chất gây nghiện, khi con người sử dụng sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh nòi giống con người. Hành vi đó làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người. Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng không coi đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà nay tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xét xử bị cáo mức án nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có cha đẻ là ông Trần Đình T được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Ba nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, do T không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hương Sơn không có căn cứ để xác minh, xử lý nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về vật chứng vụ án:

- 19,1812 gam Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định được đựng trong gói ni lông màu xanh được cho vào 01 túi ni lông trong suốt cùng toàn bộ vỏ bao gói cũ được niêm phong trong 01 phong bì thu màu trắng có dòng chữ “Công an tỉnh Hà Tĩnh, phòng ký thuật hình sự”, rồi dán kín lại, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và bị cáo là các vật nhà nước cấm lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- 01 Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH, màu trắng, biển kiểm soát 38H1 – 381.B (mang tên Trần Thị T), xe đã qua sử dụng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị T đều khẳng định chiếc xe này được mua từ nguồn tiền riêng của chị T có được trước thời kỳ hôn nhân, tuy bị cáo và chị T là vợ chồng nhưng giữa bị cáo và chị T thỏa thuận không nhập nguồn kinh tế riêng của mỗi người thành tài sản chung vì chị T kết hôn lần thứ hai nên cần xác định chiếc xe này là tài sản riêng của chị Trần Thị T, việc bị cáo sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội chị T không biết nên cần trả lại cho chị T là phù hợp.

- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 38 0000B do Công an xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 09/11/2022 mang tên Trần Thị T. Là tài sản thuộc quyền sở hữu của chị T và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho chị T.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo (ngày 14/12/2022).

* Về vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy: - 19,1812 gam Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định được đựng trong gói ni lông màu xanh được cho vào 01 túi ni lông trong suốt cùng toàn bộ vỏ bao gói cũ được niêm phong trong 01 phong bì thu màu trắng có dòng chữ “Công an tỉnh Hà Tĩnh, phòng ký thuật hình sự”, rồi dán kín lại, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và bị cáo.

- Trả lại cho chị Trần Thị T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH, màu trắng, biển kiểm soát 38H1 – 381.B (mang tên Trần Thị T), xe đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 38 0000B do Công an xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 09/11/2022 mang tên Trần Thị T.

Đặc điểm các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng các ngày 02/3/2023.

* Về án phí: Buộc bị cáo Trần Quốc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Quốc T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ