- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị G (tên gọi khác: C) phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt tiền; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HS-ST Ngày: 10/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H,
TỈNH B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim H
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh S
2. Ông Đặng Văn M
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Văn T – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm
T, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh B tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Thái T – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh B xét xử
sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm
2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HS ngày 27/01/2023, đối
với bị cáo:
LÊ THỊ G (tên gọi khác: C) - sinh năm 1968 tại tỉnh B; Nơi đăng ký HKTT và
chỗ ở: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh B; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn:
02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông
Lê Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị H (chết); Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con
nhỏ nhất; Chồng tên Võ Văn T; Con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất
sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Bị cáo
có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị S, sinh
năm 1960 (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau: Qua công tác trinh sát, nắm tình hình tại nhà bị cáo Lê Thị G
(C), có hoạt động đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức ghi bán số đề. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30/7/2022 Đội Chống tệ nạn xã hội và mua bán người Phòng Cảnh sát hình sự - Công an tỉnh B phối hợp cùng Công an xã H, huyện H, tỉnh B kiểm tra nhà bị cáo Lê Thị G thì phát hiện và bắt quả tang bị cáo đang bán số đề cho bà Nguyễn Thị S (L), trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh B khi bà S cầm tờ giấy lịch đã được viết sẵn với nội dung mua số đề với tổng số tiền thể hiện trên phơ là 150.000đồng đưa cho bị cáo, trong đó: đài B bao lô số đề 91 với số tiền 5000đồng; số đề 51 với số tiền 10.000đồng đầu, 5000đồng đuôi; số đề 91 với số tiền 10.000đồng đầu, 5000đồng đuôi; mua đài thành phố H số đề 51 với số tiền 10.000đồng đầu, 5000đồng đuôi; số đề 91 với số tiền 10.000đồng đầu, 5000đồng đuôi (bà S phải trả cho bị cáo số tiền 100.000đồng, còn lại 50.000đồng là tiền khuyến mãi nhưng bà S chưa kịp đưa tiền cho bị cáo). Tổ công tác lập biên bản ghi nhận sự việc đánh bạc dưới hình thức ghi bán số đề của bị cáo Lê Thị G, thu giữ của bị cáo 03 tờ phơ đề loại khổ giấy A4 ghi nội dung mua bán số đề vào các ngày 29/7/2022 và 30/7/2022, 08 tờ phơ đề nhỏ, do người mua số đề mang đến đưa cho bị cáo những ngày trước đó và ngày 30/7/2022 (trong đó chỉ xác định được một tờ ghi đài Đà Lạt ngày 24/7/2022 (ký hiệu A4), 01 tờ ghi mua số đề đài B ngày 29/7/2022 (ký hiệu A8) đã được ghi vào tờ phơ tổng bị thu giữ, còn lại 06 tờ không xác định được ngày ghi, cũng như đài ghi), 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đỏ - đen, có số thuê bao 0377108658 và số tiền 620.000đồng (là tiền bị cáo bán số đề trong ngày 30/7/2022). Thu giữ của bà Nguyễn Thị S 01 tờ giấy lịch nội dung ghi các số đề và số tiền mua các đài ngày 30/7/2022 và số tiền 100.000đồng đồng thời đưa bị cáo và bà S về trụ sở Công an làm việc. Tại đây bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình ngày 30/7/2022 và những ngày trước đó dưới hình thức ghi bán số đề trái phép được thua bằng tiền.
Quá trình điều tra xác định: Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 6/2022 đến
ngày 30/7/2022 để có tiền tiêu xài, bị cáo Lê Thị G đã đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi bán số đề cho nhiều người, thắng thua bằng tiền tại nhà bị cáo. Hàng ngày, từ khoảng 14 giờ đến 15 giờ 30 phút, dựa vào kết quả trên đài xổ số các tỉnh miền Nam và miền Bắc, bị cáo ngồi tại nhà bán số đề cho những người đến mua. Những người mua số đề sẽ trực tiếp đến nhà gặp bị cáo mua số đề, người mua số đề nói các con số cần mua với số tiền tương ứng rồi bị cáo viết các số đề và số tiền tương ứng của người mua đề vào tờ giấy nhỏ, loại giấy vở học sinh, giấy lịch… đưa lại cho người mua số đề để làm căn cứ trả tiền khi người mua thắng cược nếu trúng; Cũng có người mua số đề viết sẵn các số đề, số tiền, đài xổ số họ mua vào các tờ giấy nhỏ mang đến đưa cho bị cáo để mua số đề. Hàng ngày sau khi có kết quả xổ số các đài Miền Bắc và Miền Nam, người mua đề nào thắng cược thì mang tờ giấy nhỏ đến nhà gặp bị cáo để nhận tiền thắng cược. Sau khi bán số đề bị cáo tổng hợp các số đề, số tiền người mua và ghi lại vào tờ giấy loại giấy khổ A4 sau đó chuyển lại cho Nguyễn Thị S ở thôn Đ, xã H, huyện H để hưởng hoa hồng 08% (theo lời khai của bị cáo, tuy
nhiên bà Sanh không thừa nhận việc bị cáo chuyển số đề cho bà Sanh để hưởng hoa
hồng như bị cáo khai nhận).
* Về cách thức mua số đề:
Đối với đài miền Bắc: người chơi có thể mua số đầu là 2 số cuối của giải đặc
biệt và số đuôi là 4 cặp số cuối giải bảy; bao lô 2 chân là 2 số cuối từ giải 7 đến giải
đặc biệt; bao lô 3 chân là 3 số cuối từ giải 6 đến giải đặc biệt; đá lô tức là người chơi
chọn 1 cặp lô hai số tương ứng với 1 vòng dự thưởng. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến
thiết hàng ngày của đài miền Bắc, bị cáo thu tiền của người mua, như sau: Mua số
đầu, đuôi thì số tiền mua nhân cho 5 lô của (4 lô giải 7 và 1 lô giải đặc biệt), mua bao
lô thì lấy tiền mua nhân cho 27 lô trong kết quả xổ số, đá lô thì lấy tiền mua nhân lên
cho 54 lô của 1 vòng dự thưởng, nghĩa là tiền mua x 54. Về hình thức ghi đề, người
mua số đầu, số đuôi thì ghi số tiền trước và sau số đề, mua bao lô thì ghi số tiền sau
số đề; mua số đá thì các cặp số đề được ghi thêm dấu “-” ở giữa và ghi số tiền sau các
cặp số đề đó. Số tiền ghi tắt theo tỷ lệ 1/1.000, nghĩa là nếu người mua 1.000đ thì ghi
1, mua 2.500đồng thì ghi 2,5, mua 10.000đ thì ghi 10,… Để khuyến khích, thu hút
người chơi đề, khi mua số đầu, số đuôi người bán đề chỉ lấy tiền mua nhân 4 lô đề
của giải 7, khi mua bao lô chỉ thu tiền mua nhân cho 22/27 lô, khi mua đá lô chỉ thu
tiền mua nhân cho 44/54 lô.
Đối với đài miền Nam: người mua có thể mua số đầu là 2 số của giải tám, số
đuôi là 2 số cuối giải đặc biệt; bao lô 2 chân là 2 số cuối từ giải tám đến giải đặc biệt;
bao lô 3 chân là 3 số cuối từ giải bảy đến giải đặc biệt; số đá là 1 cặp số ở 01 đài xổ
số, mỗi số trong cặp số là 2 số cuối từ giải tám đến giải đặc biệt; số xiên đá là 01 cặp
số ở 02 đài xổ số; số đá chéo 02 đài miền nam là mua số cặp, số gồm 02 số của 02 đài
Ch, phụ theo đài của từng ngày, lấy theo kết quả của 2 số từ giải tám đến giải đặc biệt
của 02 đài, khi kết quả ra 02 số, mỗi số ở một đài thì trúng thưởng. Căn cứ vào kết
quả xổ số kiến thiết hàng ngày của các tỉnh, thành người chơi đề có thể chọn mua số
đề theo tên đài miền Nam gồm: ngày thứ 2: Đồng Tháp, thành phố H, C; ngày thứ 3:
Bà Rịa Vũng Tàu, Bến Tre, Bạc Liêu; ngày thứ 4: Sóc Trăng, Cần Thơ, Đồng Nai;
ngày thứ 5: Bình Thuận, An Giang, Tây Ninh; ngày thứ 6: Bình Dương, Vĩnh Long,
Trà Vinh; ngày thứ 7: Bình Phước, Long An, Hậu Giang, thành phố Hồ Chí Minh;
ngày chủ nhật: Đà Lạt, Kiên Giang, Tiền Giang. Về hình thức ghi đề tương tự như
đài miền Bắc. Nhằm khuyến khích và lôi kéo người mua số đề, bị cáo chỉ lấy 1/2 số
tiền mua số đầu, số đuôi, hoặc ghi thêm 50% vào số tiền người mua tùy theo người
mua chọn ghi cho số đầu hay số đuôi, có nghĩa nếu mua 10.000đồng đầu thì ghi thêm
5.000đồng đuôi. Đối với hình thức mua bao lô 2 chân, thì chỉ lấy tiền mua nhân 12/18
lô; bao lô 3 chân, thì chỉ lấy tiền mua nhân 12/17 lô; số đá thì chỉ lấy số tiền mua
nhân 48/72 lô; đá chéo 02 đài thì chỉ lấy số tiền mua nhân 36/36 lô (số ở 02 đài),
nhưng khi trúng đề thì người nhận đủ số tiền được ghi trên phơ đề.
Giữa người bán và người mua đề thỏa thuận với nhau tỷ lệ ăn thua. Đối với
hình thức chơi số đề đài miền Bắc: số đầu, số đuôi là 1/60 nghĩa là khi người mua trúng 1.000đồng thì người bán (chủ đề) phải trả cho người mua 60.000đồng, bao lô 02 chân là 1/70, nghĩa là khi người mua trúng 1.000đồng thì người bán (chủ đề) phải trả cho người mua 70.000đồng; cặp số đá là 1/600, nghĩa là người mua trúng 1.000đồng thì người bán trả cho người mua là 600.000đồng cho mỗi cặp số. Đối với hình thức chơi số đề miền Nam: số đầu, số đuôi và bao lô 2 chân là 1/60, nghĩa là khi người mua trúng 1.000đồng thì người bán phải trả cho người mua 60.000đồng; số đá là 1/600, nghĩa là người mua trúng 1.000đồng thì người bán trả cho người mua là 600.000đồng cho mỗi cặp số; đá chéo 02 đài là 1/600, nghĩa là người mua trúng 1.000đồng thì người bán trả cho người mua là 600.000đồng. Người chơi tuỳ ý lựa chọn các con số, hình thức chơi và số tiền chơi.
* Về cách thức ghi đề: Bị cáo Lê Thị G bán số đề theo các đài Miền Bắc và
Miền Nam rồi ghi tổng hợp lại số đề lên tờ giấy A4 hoặc người mua số đề viết sẵn các số đề, số tiền, đài xổ số họ mua vào các tờ giấy nhỏ mang đến đưa cho bị cáo để mua số đề: người mua số đầu thì ghi số tiền trước số đề, mua số đuôi thì ghi số tiền sau số đề, nếu mua cả số đầu lẫn số đuôi thì ghi số tiền mua số đầu trước, số tiền mua số đuôi sau và số đề ở giữa; mua bao lô thì ghi chữ Blô Đ Bắc, Blô Đ Ch, Blô Đ phụ tùy theo đài mà người chơi muốn mua; mua đá chéo 02 đài thì ghi Đá chéo 2Đ Cp, số đề ở trước, số tiền sau; mua số đá thì ghi các cặp số đề trước, số tiền sau. Số tiền được ghi tắt theo tỷ lệ 1/1.000, nghĩa là nếu người mua 1.000đồng thì ghi 1, mua 2.000đồng thì ghi 2… Nhằm khuyến khích và lôi kéo người mua số đề. Đối với xổ số các đài miền Nam, bị cáo chỉ lấy 2/3 (hai phần ba) số tiền mua số đầu, số đuôi hoặc ghi thêm 50% vào số tiền người mua tùy theo người mua chọn ghi cho số đầu hay số đuôi, có nghĩa nếu mua 1.000đồng thì ghi 1,5 (tức 1.500đồng); mua bao lô 2 chân thì chỉ lấy tiền 12/18 lô, có nghĩa nếu mua số lô với số tiền 1.000đồng thì người bán chỉ thu 12.000đồng, còn khuyến khích cho lại người mua 6.000đồng; số đá thì chỉ lấy tiền 12/18 lô mỗi số, có nghĩa nếu mua cặp số đá đài Bình Thuận với số tiền 1.000đồng thì người bán chỉ thu 24.000đồng (12 x 1.000đ x 2 số), còn khuyến khích lại cho người mua 12.000đồng (6 x 1.000đ x 2 số); đá chéo 02 đài thì lấy tiền 36/36 lô, có nghĩa nếu mua số lô với số tiền 1.000đồng thì người bán thu 36.000đồng. Đối với xổ số đài miền Bắc, người mua số đầu, đuôi thì bị cáo chỉ thu của người mua số tiền mua nhân với 4 lô (4 cặp số của giải bảy) khuyến khích cho lại người mua 01 lô (02 số cuối cùng của giải đặc biệt). Khi trúng thưởng người mua được nhận đủ số tiền bằng số tiền trên phơ đối với cả đài miền Bắc và đài miền Nam.
Quá trình điều tra chứng minh bị cáo Lê Thị G đánh bạc trái phép dưới hình
thức mua bán số đề trong các ngày 24/7/2022, ngày 29/7/2022 và ngày 30/7/2022, cụ thể như sau:
Ngày 24/7/2022, số tiền mua bán số đề của bị cáo được thể hiện trên tờ phơ đề
được đánh ký hiệu A4 trên tổng số 08 tờ phơ đề nhỏ bị thu giữ. Bị cáo bán số đề đài
tỉnh Lâm Đồng cho người mua với tổng số tiền 295.000đồng (trong đó mua số đầu
với tổng số tiền 115.000đồng, mua bao lô với tổng số tiền 180.000đồng), số tiền thực
thu của khách 196.000đồng, tiền khuyến mãi cho khách 99.000đồng.
Ngày 29/7/2022, tổng số tiền thể hiện trên phơ đề là 8.076.000đồng (trong đó:
Tổng số tiền trên phơ đài miền Bắc là 3.438.500đồng (bao gồm: mua số đầu đuôi là
1.400.000đồng; mua bao lô 2 chân là 1.282.500đồng; mua đá lô là 756.000đồng), số
tiền thực thu là 2.781.000đồng. Tổng số tiền trên phơ đài miền Nam (gồm đài Bình
Dương và đài Vĩnh Long) là 4.637.500đồng (bao gồm: số tiền đánh đài Bình Dương
là 3.062.500đồng (trong đó: mua bao lô 540.000đồng; mua đầu đuôi 2.532.500đồng),
số tiền thực thu là 2.035.000đồng. Số tiền đánh đài Vĩnh Long là 1.595.000đồng
(mua đầu đuôi), số tiền thực thu là 1.065.000đồng). Đối chiếu với kết quả xổ số kiến
thiết của đài miền Bắc thì người mua trúng thưởng 3.600.000đồng (trúng thưởng số
49 và 78, số 49 mua số đầu đài miền Bắc 25.000đồng, trúng thưởng đầu số tiền
1.500.000đồng (25.000 đ x 60=1.500.000đ), bao lô số 49 số tiền 10.000đồng ra 02 lô
nên số tiền trúng thưởng là 1.400.000đồng (10.000đ x 70 x 2 = 1.400.000đ), bao lô số
78 số tiền 10.000đồng, trúng thưởng 700.000đồng (10.000đ x 70=700.000đ). Đối
chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Nam gồm 02 đài (Bình Dương, Vĩnh Long)
thì có các số đề đã trúng là 35; 78 (bao lô đài Bình Dương) với số tiền trúng thưởng
là: 450.000đồng (trúng số 35 và 78, bao lô số 35 số tiền 5000đồng, trúng
300.000đồng (5000đ x 60= 300.000đ), bao lô số 78 số tiền 2.500đồng, trúng
150.000đồng (2.500 x 60=150.000đ)), đài Vĩnh Long không trúng. Như vậy, trong
ngày 29/7/2022 Lê Thị G đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số đề với tổng
số tiền là 12.126.000đồng (tiền trên phơ đề: 8.076.000đồng, tiền khách trúng thưởng
4.050.000đồng). Trong đó bán số đề đài miền Bắc là 7.038.500đồng và số tiền bán số
đề đài miền Nam là 5.087.500đồng (đài Bình Dương là 3.492.500đồng; đài Vĩnh
Long là 1.595.000đồng). Số tiền thực thu của khách chơi là 5.881.000đồng.
Ngày 30/7/2022, tổng số tiền thể hiện trên phơ đề đài miền Nam là
2.347.500đồng (trong đó: tổng số tiền trên phơ đài Bình Phước là 1.060.000đồng
(bao gồm: mua số đầu, số đuôi là 970.000đồng, bao lô 02 chân là 90.000đồng, số tiền
thực thu của khách là 720.000đồng); tổng số tiền trên phơ đài thành phố Hồ Chí
Minh mua số đầu, số đuôi là 367.500đồng, số tiền thực thu của khách là
250.000đồng; tổng số tiền trên phơ đài Long An mua số đầu, số đuôi là 337.500đồng,
số tiền thực thu là 225.000đồng; tổng số tiền trên phơ đài Hậu Giang mua số đầu, số
đuôi là 162.500đồng, số tiền thực thu là 110.000đồng, tổng số tiền bán số đá chéo 03
lô, hai đài Ch phụ Bình Phước và thành phố Hồ Chí Minh là 270.000đồng, số tiền
thực thu là 270.000đồng). Trong ngày 30/7/2022 khi Công an bắt quả tang bị cáo ghi
bán số đề thì chưa có kết quả xổ số các đài mở thưởng.
Như vậy trong các ngày 24/7/2022, ngày 29/7/2022 và ngày 30/7/2022 tổng số
tiền mà bị cáo đánh bạc bằng hình thức ghi bán số đề là 14.768.500đồng (trong đó tiền trên phơ đề là 10.718.500đồng, số tiền người chơi trúng thưởng là 4.050.000đồng), số tiền bị cáo thực thu là 7.652.000đồng, số tiền bị cáo thu lợi bất Ch là 3.602.000đồng.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận trước ngày 30/7/2022, bị cáo có ghi bán số
đề cho nhiều người nhưng không nhớ bán được cụ thể bao nhiêu tiền mỗi ngày, bán cho ai và cũng lỗ không có lời nhưng không xác định được lỗ bao nhiêu do người chơi trúng thưởng nhiều. Mặt khác quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc chỉ thu giữ được các phơ đề mà bị cáo bán trong các ngày 24/7/2022, ngày 29/7/2022 và ngày 30/7/2022 cùng 07 tờ phơ đề nhỏ không xác định được ngày bán, không chứng minh được số tiền đánh bạc trái phép của bị cáo trong những ngày trước ngày 30/7/2022 mỗi ngày cụ thể là bao nhiêu như khai nhận của bị cáo nên không xem xét xử lý.
Tổng số tiền Nguyễn Thị S đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số đề trong
ngày 30/7/2022 là 150.000đồng.
Bị cáo Lê Thị G đã tự nguyện giao nộp lại số tiền đánh bạc và thu lợi bất Ch từ
việc đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số đề trong quá trình điều tra với tổng số tiền là 7.531.000đồng.
Tại bản kết luận giám định số 1036/KL - KTHS ngày 03/10/2022 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: các chữ viết, chữ số trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A4 so với các chữ viết, chữ số trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1, M2, M3 là do cùng một người viết; chữ viết, chữ số trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A5 đến A12 so với các chữ viết, chữ số trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1, M2, M3 là không phải do cùng một người viết.
Hoàn lại đối tượng giám định: Hoàn lại toàn bộ tài liệu đã gửi đến giám định.
* Vật chứng thu giữ và xử lý:
- 03 tờ phơ đề khổ giấy A4 (được đánh ký hiệu từ A1 đến A3) do bị cáo tổng
hợp ghi các số đề bán được trong các ngày 29/7/2022 và ngày 30/7/2022 và 09 tờ phơ đề (loại nhỏ) (được ký hiệu từ A4 đến A12) được chuyển cùng hồ sơ vụ án.
- Tổng số tiền 8.251.000đồng (bao gồm: số tiền 620.000đồng là tiền bị cáo bán
đề ngày 30/7/2022 bị thu giữ, số tiền 7.531.000đồng bị cáo tự nguyện giao nộp và 100.000đồng thu giữ của Nguyễn Thị S); 01 điện thoại di động hiệu Vivo thu giữ của bị cáo, tất cả vật chứng của vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã ra quyết định chuyển vật chứng, chuyển toàn bộ số vật chứng trên từ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện H bảo quản chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSHTB ngày 03/01/2023 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện H truy tố Lê Thị G về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình
sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh B giữ
nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng đối với bị cáo Lê Thị G và đề nghị Hội đồng
xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị G phạt
tiền từ 20.000.000đồng đến 30.000.000đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 3.602.000đồng Lê Thị G thu lợi từ việc đánh
bạc, 100.000đồng tiền Nguyễn Thị S dùng đánh bạc.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, không liên quan đến vụ án và
số tiền còn lại 4.549.000đồng bị cáo G đã giao nộp không liên quan đến vụ án trả lại
cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 03 tờ phơ đề khổ giấy A4 (được đánh ký hiệu
từ A1 đến A3) do bị cáo Lê Thị G tổng hợp ghi các số đề bán được trong các ngày
29/7/2022, ngày 30/7/2022 và 09 tờ phơ đề (loại nhỏ) (được ký hiệu từ A4 đến A12) là
tài liệu, vật chứng của vụ án.
Ý kiến của bị cáo Lê Thị G: Bị cáo bị xét xử về tội “Đánh bạc” là đúng, không
oan. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm
Thuận Bắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có
người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố
tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa
nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ, được cơ quan điều tra lấy lời khai theo
đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, sự vắng mặt của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị G khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo
đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30/7/2022, tại nhà bị cáo Lê Thị G (C) ở thôn P, xã H, huyện H, tỉnh B, đội Chống tệ nạn xã hội và mua bán người Phòng Cảnh sát hình sự - Công an tỉnh B phối hợp cùng Công an xã H, huyện H, tỉnh B tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Lê Thị G đang ghi số đề bán cho Nguyễn Thị S (tên thường gọi L) khi S đến mua các số đề đài Bình Phước và thành phố Hồ Chí Minh với tổng số tiền trên phơ đề là 150.000đồng. Tổ công tác lập biên bản ghi nhận sự việc và thu giữ của bị cáo 03 tờ phơ đề lớn loại giấy khổ A4 được bị cáo ghi tổng hợp các số đề bán được vào các ngày 29/7/2022 và 30/7/2022, 08 tờ phơ đề nhỏ các loại do người mua số đề mang đến đưa cho bị cáo và bị cáo ghi cho người mua đề những ngày trước đó, 01 điện thoại di động Vivo màu đỏ và số tiền 620.000đồng là tiền bị cáo bán số đề ngày 30/7/2022. Thu giữ của bà S 01 tờ giấy lịch bà S ghi số đề mang đến đưa cho bị cáo mua số đề cùng số tiền 100.000đồng đem theo để mua số đề nhưng chưa kịp đưa cho bị cáo.
Quá trình điều tra xác định số tiền đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số đề
của bị cáo Lê Thị G, cụ thể như sau: Ngày 24/7/2022, số tiền bị cáo đánh bạc là 295.000đồng; ngày 29/7/2022, số tiền bị cáo đánh bạc là 12.126.000đồng và ngày 30/7/2022, số tiền bị cáo đánh bạc là 2.347.500đồng. Tổng số tiền đánh bạc của bị cáo Lê Thị G trong các ngày 24/7/2022, ngày 29/7/2022 và 30/7/2022 là 14.768.500đồng, trong đó số tiền bị cáo thực thu là 7.652.000đồng, số tiền bị cáo thu lợi bất Ch là 3.602.000đồng.
Do đó, hành vi của bị cáo Lê Thị G đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc" theo
quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Thị G phạm tội nhiều
lần nên thuộc trường hợp “phạm tội hai lần trở lên”. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để tăng nặng hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa
bị cáo Lê Thị G khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi do bị cáo gây ra nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo G đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số
tiền dùng vào đánh bạc và có người thân tham gia cách mạng, được tặng huân
chương nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo theo quy định pháp luật.
[6] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị
cáo là người đã trưởng thành, có nhận thức về mặt pháp luật, bị cáo nhận thức được
bán số đề là một trong những tệ nạn, là mầm móng làm phát sinh các tội phạm khác
nên nhà nước nghiêm cấm và xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi vi phạm, thế
nhưng bị cáo không chịu lao động để tạo ra thu nhập hợp pháp mà muốn dễ dàng có
được khoản thu nhập nhưng không phải lao động nặng nhọc nên bị cáo đã cố ý thực
hiện hành vi bán số đề tại nhà mình với nhiều người để thu lợi bất Ch thông qua việc
cá cược các con số theo kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh tại Bình Thuận. Hành vi
của bị cáo đã xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên
cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe giáo dục phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã phân
tích hành vi vi phạm của bị cáo G, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng
xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có
căn cứ và với mức hình phạt mà kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo G là tương xứng
với hành vi vi phạm của bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy
rằng bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đã chấp hành đúng Ch sách pháp
luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, bản thân bị cáo không
có tiền án, tiền sự và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ
luật hình sự, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần phạt
tiền là cũng đủ tính răn đe đối với bị cáo. Do vậy, áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự
xử phạt tiền là hình phạt Ch cũng đủ răn đe và giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự thì
bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, qua xác minh bị cáo là
người lao động, không có tài sản có giá trị, nghề nghiệp không ổn định và điều kiện
kinh tế khó khăn, đồng thời đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt Ch nên không áp
dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 03 tờ phơ đề khổ giấy A4 (được đánh ký hiệu từ A1 đến A3) do Lê Thị
G tổng hợp ghi các số đề bán được trong các ngày 29/7/2022, ngày 30/7/2022 và 09 tờ
phơ đề (loại nhỏ) (được ký hiệu từ A4 đến A12) là tài liệu, vật chứng của vụ án nên
tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
- Đối với số tiền 8.251.000đồng, gồm 620.000đồng là tiền bị cáo bán đề ngày
30/7/2022; 7.531.000đồng bị cáo tự nguyện giao nộp và 100.000đồng thu giữ của bà Nguyễn Thị S. Trong đó, có 3.602.000đồng bị cáo Lê Thị G thu lợi từ việc đánh bạc và 100.000đồng tiền bà Nguyễn Thị S dùng đánh bạc nên tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với số tiền còn lại 4.549.000đồng bị cáo G giao nộp không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo không liên quan đến việc đánh bạc
nên trả lại cho bị cáo G nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
[9] Về các vấn đề khác:
- Đối với bà Nguyễn Thị S đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số đề với
số tiền 150.000đồng trong ngày 30/7/2022, quá trình điều tra xác định bà S chưa bị xử phạt hành Ch hay bị kết án về tội đánh bạc, gá bạc hay tổ chức đánh bạc. Do đó, hành vi của bà Nguyễn Thị S không phạm tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Hành vi đánh bạc trái phép trên của bà S đã bị Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành Ch, hình thức phạt tiền, mức phạt 350.000đồng là đúng pháp luật.
- Đối với bà Nguyễn Thị S là người bị cáo khai nhận sau khi bán số đề thì
chuyển lại cho bà Sanh để hưởng hoa hồng 8%. Tuy nhiên, quá trình điều tra bà Sanh không thừa nhận có việc nhận số đề từ bị cáo chuyển đến và bà Sanh cũng không bán số đề cho bất cứ ai. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh hành vi vi phạm của bà Sanh, nên không đủ căn cứ xử lý bà Sanh về tội “Đánh bạc” theo Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị G (tên gọi khác: C) phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lê Thị G phạt tiền 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng) để sung quỹ
nhà nước.
2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 3.702.000đồng, trong đó có
3.602.000đồng bị cáo Lê Thị G thu lợi từ việc đánh bạc và 100.000đồng tiền bà Nguyễn Thị S dùng đánh bạc.
- Trả lại cho bị cáo Lê Thị G số tiền 4.549.000đồng và 01 điện thoại di động
hiệu Vivo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H theo
Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/01/2023 và giấy ủy nhiệm chi lập ngày
10/01/2023.
- Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 03 tờ phơ đề khổ giấy A4 (được đánh ký hiệu
từ A1 đến A3) do bị cáo Lê Thị G tổng hợp ghi các số đề bán được trong các ngày
29/7/2022, ngày 30/7/2022 và 09 tờ phơ đề (loại nhỏ) (được ký hiệu từ A4 đến A12) là
tài liệu, vật chứng của vụ án.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Bị cáo Lê Thị G phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ
thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/02/2023).
Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai
tại địa phương.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B; - VKSND tỉnh B; - Sở tư pháp; - VKSND huyện H; - Công an huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện H; - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Huỳnh Thị Kim Ho |