vanban.org

Bản án 18/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quý D phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt: Bị cáo Phạm Quý D 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/3/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quý D phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HS-ST
Ngày 28-3-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tươi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Quốc Phòng.

2. Ông Nguyễn Văn Thể.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/HSST-QĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023 đối với:

- Bị cáo Phạm Quý D,sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q1 và bà Nguyễn Thị N; vợ: Bùi Thị T; con: Có 02 con (lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016); tiền án: Không; tiền sự: Ngày 20/12/2021 bị Công an phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc; bị tạm giữ ngày 30/11/2022 đến ngày 07/12/2022 chuyển áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại tại địa phương; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Bùi Văn D2, sinh năm 1976;

+ Anh Nguyễn Quốc C, sinh năm 1974;

+ Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1985;

+ Anh Bùi Quang Đ, sinh năm 1985;

Cùng nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 29/11/2022, sau khi uống bia xong, Phạm Quý D, Nguyễn Văn K, Bùi Văn D2, Bùi Quang Đ, và Nguyễn Quốc C cùng trú tại tổ dân phố H, phường T, thị xã D rủ nhau về nhà K đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi đánh liêng. Sau đó K, D2, Đ, D đi về nhà K chơi đánh bạc trước, còn C về nhà tắm, khoảng 20 phút sau C đến nhà K tham gia đánh bạc cùng.

Theo quy ước của những người đánh bạc dưới hình thức chơi “Liêng” thì người chơi sẽ sử dụng một bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài từ A (Át) đến 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, mỗi loại quân đều gồm 4 chất Rô, Cơ, Tép, Bích. Khi chơi, mỗi người phải bỏ vào giữa sàn số tiền 10.000 đồng gọi là “góp gà”. Không tính sáp, đồng hoa. Một trong số những người chơi sẽ Ca đều theo vòng tròn cho mỗi người tham gia đánh bạc 03 quân bài bất kỳ. Sau đó tùy thuộc vào nước bài (mạnh hay yếu) của mình mỗi người chơi đều có 03 sự lựa chọn: “Úp bài”, “Theo” hoặc “Tố”. “Úp bài” có nghĩa là không tham gia ván bài đó nữa, chấp nhận thua hết toàn bộ số tiền đã đặt cược, Theo” có nghĩa là bỏ ra số tiền bằng số tiền người chơi trước đặt cược, “Tố” có nghĩa là bỏ ra thêm một số tiền đặt cược (nhiều nhất không quá 100.000 đồng) để tiếp tục tham gia ván bài đó.

“Liêng” là bài có ba quân bài liên tiếp, mạnh nhất là bộ liêng “Q,K,A” và yếu nhất là bộ liêng “A,2,3”. Trường hợp tính điểm thì người chơi sẽ cộng tổng số điểm ba quân bài của mình lại. Theo quy định điểm cao nhất là 9 điểm và điểm thấp nhất là 0. Trong đó các quân bài “10, J, Q, K” đều được tính là 0 điểm. Các quân bài từ 2 đến 9 có số điểm tương ứng. Riêng quân “át” được tính là 01 điểm.

Ván chơi sẽ kết thúc khi không có ai tố thêm, nếu còn lại ít nhất hai người chơi theo vòng tố thì những người chơi đó sẽ hạ bài ra để tính độ mạnh yếu. Bài ai mạnh nhất sẽ thắng và sẽ được nhận toàn bộ số tiền của những người chơi đã đặt cửa. Nếu cuối cùng chỉ còn lại một người theo vòng thì người đó cũng được coi là thắng và cũng được nhận toàn bộ số tiền trên. Người thắng ván bài đó sẽ là người được Ca và được quyền quyết định đầu tiên về việc có tham gia chơi hoặc không tham gia chơi ván bài mình Ca.

Những người chơi có bài giống nhau thì sẽ so sánh chất của quân bài để phân thắng thua với nhau. Thứ tự từ mạnh đến yếu của các chất trong bài Liêng được quy định là: “Rô”, “Cơ”, “Tép”, “Bích”.

Khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, khi các đối tượng trên đang tham gia đánh bạc thì bị lực lượng Công an thị xã Duy Tiên phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu trên Cếu bạc: số tiền 1.650.000 đồng và 01 bộ tú lơ khơ đủ 52 quân bài, mặt sau màu xanh; 01 Cếc Cếu cói màu vàng đã qua sử dụng KT (2x1,6)m; Thu trên người Phạm Quý D: Số tiền 580.000đồng; Thu trên người Bùi Quang Đ: Số tiền 1.250.000 đồng; Thu trên người Nguyễn Quốc C: Số tiền 2.760.000 đồng; Thu trên người Bùi Văn D2: Số tiền: 1.200.000 đồng.

Quá trình điều tra bị cáo và các đối tượng đã thành khẩn khai nhận về hành vi của bản thân như sau:

Phạm Quý D khai nhận: Khi tham gia đánh bạc D có 630.000 đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc, khi bị bắt D đang thắng bạc số tiền 270.000 đồng. Ngoài ra trong quá trình đánh bạc D còn cho C vay 200.000 đồng. Tổng sổ tiền D thắng bạc là 470.000 đồng.

Nguyễn Văn K khai nhận: Khi tham gia đánh bạc K có 430.000 đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc, K cho D2 vay 500.000 đồng. Khi bị bắt K còn 120.000 đồng trên chiếu.

Bùi Quang Đ khai nhận: Đ có 1.250.000 đồng cất trong người không sử dụng vào việc đánh bạc. Đ vay K số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt Đ đang thắng bạc 80.000 đồng.

Nguyễn Quốc C khai nhận: Khi tham gia đánh bạc C có khoảng 2.930.000 đồng nhưng chỉ sử dụng 170.000 đồng vào việc đánh bạc, còn 2.760.000 đồng cất trong người không sử dụng đánh bạc. Trong quá trình đánh C vay D 200.000 đồng để đánh bạc, tổng số tiền C sử dụng đánh bạc là 370.000 đồng. Khi bị bắt C đang thua bạc 40.000 đồng.

Bùi Văn D2 khai nhận: Khi tham gia đánh bạc có 1.500.000 đồng, sử dụng 300.000 đồng đánh bạc, còn 1.200.000 đồng cất trong người không sử dụng đánh bạc. Khi bị bắt D2 có 300.000 đồng, đang hòa tiền.

Cơ quan điều tra đã chứng minh được tổng số tiền các đối tượng sử dụng để tham gia đánh bạc là 2.230.000 đồng.

Cáo trạng số 10/CT-VKS- DT ngày 03/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo Phạm Quý D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Quý D mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí của vụ án.

Trong phần tranh luận: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt ngoài ra không tranh luận gì. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các chức danh tư pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 29/11/2022, tại nhà Nguyễn Văn K ở tổ dân phố H, phường T, thị xã D; Phạm Quý D, Nguyễn Văn K, Bùi Văn D2, Bùi Quang Đ và Nguyễn Quốc C đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi đánh liêng. Đến khoảng 21 giờ 20 phút ngày 29/11/2022, thì bị lực lượng Công an thị xã Duy Tiên phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc chứng minh được là 2.230.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Quý D gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Mặc dù số tiền bị cáo dùng để đánh bạc dưới 05 triệu đồng nhưng bị cáo đang có tiền sự về hành vi đánh bạc (Ngày 20/12/2021 bị Công an phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng) vì thế hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Do tổng số tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc dưới 05 triệu đồng, trước đó bị cáo D “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” nên đã sử dụng tiền sự này vào việc định tội đối với bị cáo nên theo hướng dẫn tại điểm b khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo D có đủ điều kiện cho hưởng án treo. Do bị cáo D được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì thế xét không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình, xã hội cũng đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với các hành vi khác: Đối với Nguyễn Văn K, Bùi Văn D2, Bùi Quang Đ và Nguyễn Quốc C cùng tham gia đánh bạc với Phạm Quý D nhưng do số tiền sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, trong khi chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc, gá bạc nên Công an thị xã Duy Tiên đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc chiếu cói đã cũ; 01 bộ bài gồm 52 quân là công cụ mà các đối tượng sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với số tiền 7.440.000 đồng. Qua đấu tranh xác định được số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 2.230.000 đồng nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại là 5.210.000 đồng là tài sản hợp pháp của Nguyễn Quốc C, Bùi Văn D2, Bùi Quang Đ không liên quan đến tội phạm nên HĐXX cần trả lại cho Nguyễn Quốc C số tiền 2.760.000 đồng, Bùi Văn D2 số tiền 1.200.000 đồng, Bùi Quang Đ số tiền 1.250.000 đồng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự khác được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quý D phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Quý D 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/3/2023).

Giao bị cáo Phạm Quý D cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam tiếp tục giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy: 01 Chiếc chiếu cói đã cũ và 01 bộ bài gồm 52 quân.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 2.230.000 đồng.

Trả lại cho: Nguyễn Quốc C số tiền 2.760.000 đồng, Bùi Văn D2 số tiền 1.200.000 đồng; Bùi Quang Đ số tiền 1.250.000 đồng.

(Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 08/02/2023). Số tiền trên đã được chuyển vào tài khoản của C cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 08/02/2023.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Phạm Quý D phải chịu 200.000 đồng.

Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ