vanban.org

Bản án 18/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 29/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc S phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÙ LAO DUNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

[
Bản án số: 18/2023/HS-ST.
Ngày: 29 - 9 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liên Lâm Anh Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Linh.

Ông Nguyễn Văn Giáp.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2023/TLST – HS, ngày 11 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 28/02/2005 tại huyện C, tỉnh Sóc Trăng; cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (còn sống) và bà Đặng Thị M (còn sống); anh chị em ruột có 02 người, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất là bị cáo; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo là người có nhân thân tốt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/4/2023 cho đến nay “có mặt”.

* Bị hại: Lê Nguyễn Văn L, sinh ngày 06/8/2005 “đã chết”.

* Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Anh Lê Văn V, sinh năm 1988; cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng “có mặt”.

2. Chị Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm: 1988, cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị Hồng Đ: anh Lê Văn V, sinh năm 1988; cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng “có mặt”.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ quan:

1. Anh Đỗ Nguyễn Tấn Đăng K, sinh năm: 2005; cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng “có mặt”.

2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1974; cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng “có mặt”.

3. Bà Đặng Thị M, sinh năm: 1977; cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng “có mặt”.

* Người làm chứng:

1. Chị Trần Thị Hồng D, sinh năm: 1988; cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng “có đơn xin xét xử vắng mặt”.

2. Anh Lý Thanh G, sinh năm: 1990; cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng “vắng mặt”.

3. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1957. cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng “vắng mặt”.

4. Anh Ngô Thanh S, sinh năm: 2005. cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 24/9/2022 Nguyễn Ngọc S, Lê Nguyễn Văn L, Đỗ Nguyễn Tấn Đăng K, Ngô Thanh S (tất cả là bạn học của nhau) và Lê Thị Thùy D cùng uống rượu tại nhà của L. Một lúc sau, Thanh S, D và K nghỉ uống rượu, đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày thì K lên võng tại nhà L nằm ngủ. Sau đó, Nguyễn Ngọc S (S không có giấy phép lái xe hạng A1) tự ý lấy xe mô tô của K nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đen, biển kiểm soát 83D1 - 237.28 điều khiển chở Lê Nguyễn Văn L ngồi ở phía sau để đi mua rượu, khi đi L có mang theo can nhựa loại 5 lít để mua rượu. Nguyễn Ngọc S chở L đi trên lộ đal từ nhà của L ra hướng tỉnh lộ 933B, khi đến đoạn đường cong thuộc ấp A, xã A, huyện C, do không chú ý quan sát nên S điều khiển xe chạy lấn sang lề bên trái theo hướng điều khiển xe mô tô của S, xe bị sụp xuống lề và bị ngã làm cho Lê Nguyễn Văn L té xuống mương nước cặp lộ đal dẫn đến tử vong, Nguyễn Ngọc S té nằm trên bờ bất tỉnh và được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện C.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn đối với Nguyễn Ngọc S lúc 23 giờ 09 phút ngày 24/9/2022 là 0,258 miligam/1 lít khí thở.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 207/KLGĐPY-KTHS ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng đối với Lê Nguyễn Văn L như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Trên cơ thể tử thi có 03 vết thương.

- Không bầm tụ máu dưới da vùng cổ trước.

- Trong lòng khí quản chứa đầy dịch bọt màu hồng.

2. Nguyên nhân chết: ngạt nước.

Trên cơ sở kết quả điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ thu được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cù Lao Dung đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Ngọc S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS.CLD, ngày 10 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung để xét xử Nguyễn Ngọc S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố Nhà nước đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng số 13/CT-VKS.CLD, ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ sau: khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi; không có tiền án, tiền sự; bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì đối với bị cáo và cha mẹ bị cáo; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có công với cách mạng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; về trách nhiệm dân sự: do người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì đối với bị cáo và cha mẹ bị cáo, nên không đặt ra xem xét; về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Ngọc S: xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

- Ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa: yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Ngọc S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cù Lao Dung, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Ngọc S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường và các chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu giữ trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định: bị cáo Nguyễn Ngọc S là người không có giấy phép lái xe hạng A1, sau khi uống rượu bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đen, biển kiểm soát 83D1 - 237.28 chở Lê Nguyễn Văn L ngồi ở phía sau để đi mua rượu, khi chạy xe trên lộ đal đến đoạn cong do không chú ý quan sát nên Sơn điều khiển xe chạy lấn sang lề bên trái theo chiều đi của xe S, xe bị sụp xuống lề và bị ngã làm cho L té xuống mương nước cặp lộ đal dẫn đến tử vong, S té nằm trên bờ bất tỉnh. Hành vi bị cáo thực hiện đã vi phạm khoản 8, 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008, làm chết người, không có giấy phép lái xe và điều khiển xe mô tô mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức qui định, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thể hiện là người bình thường đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc không có giấy phép lái xe hạng A1 thì không đủ điều kiện để điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên, nhưng sau khi bị cáo đã uống rượu, trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức qui định thì bị cáo tự ý lấy xe mô tô của anh K điều khiển chở bị hại L gây tai nạn hậu quả làm bị hại L tử vong, hành vi của bị cáo đã phạm tội rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng của bị hại và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy, cáo trạng số 13/CT-VKS.CLD, ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung đã truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Với hành vi phạm tội đã thực hiện, bị cáo phải bị trừng trị đích đáng theo quy định pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, cũng như giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, có như thế mới đủ điều kiện và thời gian cải tạo, răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội sau này và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi; không có tiền án, tiền sự; bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình khắc phục thiệt hại cho gia đình bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có công với cách mạng. Vì vậy, căn cứ vào điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng là đúng pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy: theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo thì bị cáo không có chức vụ, không có giấy phép lái xe, không hành nghề hoặc làm công việc liên quan đến lái xe, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với anh Đỗ Nguyễn Tấn Đăng K: là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, biển kiểm soát 83D1-237.28 mà bị cáo điều khiển gây tại nạn. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc S và anh K cùng trình bày bị cáo S tự ý lấy xe mô tô này của anh K để chở Lê Nguyễn Văn L đi mua rượu, không có sự đồng ý của anh K, nên anh K không bị xử lý hình sự về tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì đối với bị cáo và cha mẹ bị cáo là ông Nguyễn Văn T, bà Đặng Thị M, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý tài sản liên quan đến vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cù Lao Dung thu giữ gồm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, biển kiểm soát 83D1-237.28; 01 (một) can nhựa 5 lít có nắp màu đỏ; 02 (hai) mũ bảo hiểm.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, biển kiểm soát 83D1-237.28: trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cù Lao Dung đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lạị chiếc xe này cho anh Đỗ Nguyễn Tấn Đăng K là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô này, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

- Đối với 01 (một) can nhựa 5 lít có nắp màu đỏ và 02 (hai) mũ bảo hiểm: là tài sản hợp pháp của bị hại L và bị cáo S. Tuy nhiên, tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo S yêu cầu tịch thu, tiêu hủy, nên áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo bản án: căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Do người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về xử lý tài sản liên quan đến vụ án:

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: tịch thu, tiêu hủy 01 (một) can nhựa 5 lít có nắp màu đỏ và 02 (hai) mũ bảo hiểm.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cù Lao Dung và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: bị cáo Nguyễn Ngọc S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ