vanban.org

Bản án 18/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lưu Kim H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lưu Kim H 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2022. Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể rắn không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1336g (không phẩy một ba ba… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Kim H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HS-ST
Ngày 12 – 01 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Dòn

2. Ông Lê Văn Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kiều Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 287/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Kim H, giới tính: N; sinh năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 1200 Quốc lộ A, Tổ E, Khu phố F, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: 1200 Quốc lộ A, Tổ E, Khu phố F, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Kim H1 và bà Nguyễn Thị B; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2022.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trịnh Minh Đ, sinh năm 1971 (có mặt).

Địa chỉ: I N, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 45 phút ngày 05/10/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện B phối hợp Công an xã T tuần tra đến trước địa chỉ B5/19N T, Ấp B, xã T, huyện B phát hiện, bắt quả tang Lưu Kim H cất giữ 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể không màu bên trong túi quần bên trái phía trước mà H đang mặc, H khai nhận đó là ma túy tổng hợp (loại hàng đá) của H cất giữ để sử dụng cho bản thân. Công an xã T lập hồ sơ ban đầu chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B điều tra, xử lý.

Tại Bản kết luận giám định số 5767/KL-KTHS ngày 12/10/2022 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) thu giữ của Lưu Kim H là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1336 gam (không phẩy một ba ba sáu gam), loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Lưu Kim H khai nhận nghiện ma tuý từ tháng 9/2022. Ngày 05/10/2022, H đang ở nhà tại địa chỉ A Quốc lộ A, Tổ E, Khu phố F, phường T, quận B thì hết ma túy để sử dụng nên H đã điều khiển xe máy biển số 51T7-4264 đến khu vực bãi đất trống kế nhà địa chỉ B T, Ấp B, xã T, huyện B rồi dừng xe lại và đi bộ vào sâu bên trong, gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng với mục đích sử dụng dần cho bản thân. Sau đó, H lái xe máy đi về thì bị Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật như trên.

Vật chứng thu giữ của bị cáo Lưu Kim H gồm:

- 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 0,1336 gam, loại Methamphetamine.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel có số Imei 1: 352902097255187, Imei 2: 352902097255195 cùng 01 sim số thuê bao 0939572597.

- 01 (một) xe máy biển số 51T7-4264 có số khung: LO9Y6038853; số máy: Không rõ. Qua xác minh, chủ sở hữu đứng tên ông Trịnh Minh Đ. Tuy nhiên, ông Đ khai nhận không biết và không liên quan gì đến xe máy này. H khai nhận đã mua xe này vào năm 2019 từ một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 5.000.000 đồng, không có giấy tờ mua bán cũng không có giấy đăng ký xe. Chiếc xe này H dùng để đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai liên hệ.

Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 20/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố đúng, không oan, sai; bị cáo rất ăn năn hối hận; bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét thấy lời khai tại phiên tòa của bị cáo Lưu Kim H phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng của vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận vào ngày 05/10/2022, bị cáo Lưu Kim H đã thực hiện hành vi cất giữ một gói nylon hàn kín chứa tinh thể không màu qua giám định có khối lượng 0,1336g loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang trước địa chỉ nhà B T, ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù, biết pháp luật cấm tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào nhưng để có ma túy sử dụng mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước, mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội và các loại tội phạm khác.

. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lưu Kim H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo do chưa rõ lai lịch, nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra cần tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

. Về xử lý vật chứng vụ án:

- 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 0,1336 gam, loại Methamphetamine. Xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 (một) xe máy biển số 51T7-4264 có số khung: LO9Y6038853; số máy: Không rõ. Qua xác minh, chủ sở hữu đứng tên ông Trịnh Minh Đ. Tuy nhiên, ông Đ khai nhận không biết và không liên quan gì đến xe máy này. Bị cáo H khai nhận đã mua xe này vào năm 2019 từ một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 5.000.000 đồng, không có giấy tờ mua bán cũng không có giấy đăng ký xe. Chiếc xe này bị cáo H dùng để đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự huyện B tiếp tục đăng báo thông tin chủ sở hữu theo quy định, hết thời hạn thông báo mà không có chủ sở hữu liên hệ thì tịch thu và nộp ngân sách nhà nước.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel có số Imei 1: 352902097255187, Imei 2: 352902097255195 cùng 01 sim số thuê bao 0939572597. Bị cáo khai nhận dùng để sử dụng cá nhân, không liên quan đến việc phạm tội nên giao trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng. Hội đồng xét xử cũng chấp nhận ý kiến của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lưu Kim H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Lưu Kim H 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2022.

3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể rắn không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1336g (không phẩy một ba ba sáu gam), loại Methamphetamine.

- Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh 01 (một) xe máy biển số 51T7-4264 có số khung: LO9Y6038853, số máy: không rõ, để Chi cục Thi hành án dân sự đăng báo truy tìm chủ sở hữu và giao trả theo quy định. Trường hợp hết thời hạn thông báo mà không truy tìm được chủ sở hữu thì tịch thu và nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe máy biển số 51T7-4264 có số khung: LO9Y6038853, số máy: không rõ.

- Giao trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel có số Imei 1: 352902097255187, Imei 2: 352902097255195 cùng 01 sim số thuê bao 0939572597.

Các vật chứng này hiện này đang giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định chuyển vật chứng số 12/QĐ-VKS ngày 15/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/12/2022 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh.

4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ