vanban.org

Bản án 18/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Vì, TP. Hà Nội Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 12 ( mười hai) tháng tù giam, về tội“Chứa mại dâm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 12 ( mười hai) tháng tù giam, về tội“Chứa mại dâm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18 /2023/HS -ST
Ngày 21/02/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa pH1 tòa: Bà Vũ Thị Phương Lan

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Khương Văn Phương

- Ông Lê Văn Hoan

Thư ký pH1 tòa: Đỗ Thị Thúy - Thư ký Tòa ¸n nh©n d©n huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội tham gia pH1 tòa: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị H , sinh năm 1990; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay : Thôn 5, xã TM, huyện Ba Vì, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12 ;Con ông: Nguyễn Văn C , sinh năm 1957, con bà: Phạm Thị Th , sinh năm 1962 ; Chồng : Trần Văn X , sinh năm 1984 và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/11/2022 đến ngày 23/11/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại cã mÆt t¹i phiªn tßa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn K – sinh năm 1990 ( vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã VH, huyện Ba Vì, Tp Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại pH1 tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Viện kiếm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội truy tố:

Khoảng 22 giờ 30’ ngày 14.11.2022, Cơ quan CSĐT-CA huyện Ba Vì tiến hành kiểm tra hành chính tại cơ sở kinh doanh tắm nước khoáng nóng biển hiệu “Tắm Nóng” tại thôn 5- TM- Ba Vì- Hà Nội do Nguyễn Thị H (SN 1990, ở Thôn 5 – xã TM - huyện Ba Vì – TP Hà Nội) làm chủ. Quá trình kiểm tra đã phát hiện bắt quả tang H đang có hành vi chứa mại dâm cho 01 cặp nam nữ mua bán dâm để T2 lời bất chính. Tổ công tác đã T2 giữ toàn bộ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan CSĐT, H khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 22h00' ngày 14/11/2022, Nguyễn Văn K (SN: 1990- ở xã Vân Hòa - huyện Ba Vì - Hà Nội) một mình đến cơ sở tắm khoáng nóng biển hiệu “Tắm Nóng” tại thôn 5 - xã TM - huyện Ba Vì do Nguyễn Thị H làm chủ để đặt vấn đề muốn mua dâm với 01 gái bán dâm tại cơ sở tắm khoáng nóng của H. H đồng ý, đồng thời 02 bên thỏa thuận giá mua dâm là 250.000 đồng/lượt/người và sẽ thanh toán tiền sau khi mua dâm xong. K đồng ý, H sắp xếp cho K vào phòng nghỉ đầu tiên T2ộc dãy nhà dịch vụ cạnh nhà chính rồi bảo Sa Thị H1 (SN: 1999- ở Bản Điệp Quang - xã Phúc Sơn - thị xã Nghĩa Lộ

- tỉnh Yên Bái; H1 là nhân viên làm tại cơ sở tắm khoáng nóng của H) vào phòng bán dâm cho K. Sau khi K cùng H1 vào phòng mua, bán dâm, quan hệ tình dục thì chị Bùi Thị T2 (SN: 2002- ở xã Cao Sơn - huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình; T2 cũng là nhân viên làm tại cơ sở tắm khoáng nóng của H) ở trong phòng ngủ ra bàn nước ngồi uống nước, nói chuyện cùng H. Khoảng 22h15', anh Vũ Văn Hùng (SN: 1979- ở xã Thái Hòa - huyện Ba Vì) đến cơ sở tắm khoáng nóng của H để đặt vấn đề tắm nước khoáng nóng. Khi anh Hùng vừa đi đến bàn uống nước gặp H và T2 thì có lực lượng Công an huyện Ba Vì kiểm tra phát hiện bắt quả tang H đang có hành vi chứa mại dâm cho K và H1.

Tại Cơ quan CSĐT, Nguyễn Thị H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Đây là lần đầu tiên H chứa mại dâm thì bị bắt quả tang. Việc chứa mại dâm tại cơ sở tắm khoáng nóng do H thực hiện một mình, không ai biết và tham gia cùng.

Quá trình điều tra xác định: Sa Thị H1 và Bùi Thị T2 lần lượt đến làm việc tại cơ sở tắm khoáng nóng của Nguyễn Thị H từ ngày 07/11/2022 và ngày 13/11/2022. Khi làm việc, Nguyễn Thị H đều thỏa T2ận với H1, T2 về việc 02 người sẽ được H chi trả tiền ăn, ở, sinh hoạt, công việc của H1, T2 là dọn dẹp vệ sinh, nếu có khách nam muốn mua dâm, H sẽ là người sắp xếp cho H1 và T2 bán dâm cho khách. H sẽ trả cho H1 và T2 số tiền 100.000 đồng/1 lượt bán dâm (tại cơ sở của H); số tiền 70.000 đồng/1 lượt bán dâm (ngoài cơ sở của H). Ngày 14/11/2022 là lần đầu tiên Sa Thị H1 bán dâm cho khách tại cơ sở tắm khoáng nóng của H thì bị phát hiện bắt quả tang. Bùi Thị T2 chưa bán dâm được lần nào.

Ngày 30/11/2022, căn cứ Điều 24, Điều 25 Nghị định 144 ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ANTT, Công an huyện Ba Vì đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 854, 855 đối với Sa Thị H1 về hành vi bán dâm- hình thức phạt Cảnh cáo và đối với Nguyễn Văn K về hành vi mua dâm- hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng là có căn cứ.

Vật chứng T2 giữ:

01(một) vỏ bao cao su nhãn hiệu VIP và 01 (một) ruột bao cao su đã qua sử dụng (K, H1 sử dụng khi mua bán dâm- quan hệ tình dục);

Số tiền: 250.000 đồng do Nguyễn Văn K tự nguyện giao nộp là tiền để mua dâm;

01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6 Plus, màu trắng, số IMEI: 354387063044005, lắp sim số: 0325265165 của Sa Thị H1;

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen, có số Imei 1: 354813606178406; số Imei 2: 356766636178408; lắp sim số 0984470615 của Nguyễn Thị H ;

Số tiền 11.710.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm mười nghìn đồng) T2 trên người của Nguyễn Thị H.

Qua xác minh, 02 chiếc điện thoại di động nêu trên và số tiền 11.710.000 đồng của H không liên quan đến vụ án. Ngày 30/11/2022, Cơ quan CSĐT-CA huyện Ba Vì ra Quyết định xử lý vật chứng số 98 đối với 03 tài sản trên bằng hình thức trả lại tài sản cho chủ sở hữu là có căn cứ. Ngày 30/11/2022, Nguyễn Thị H, Sa Thị H1 đã nhận lại tài sản.

Đối với các vật chứng còn lại, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì để phục vụ quá trình giải quyết án.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS, ngày 17/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội, truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2] Tại pH1 tòa:

Bị cáo Nguyễn Thị H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Chứa mại dâm” là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Kiểm sát viên nắm quyền công tố tại pH1 tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thị H như bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tích chất, mức độ hành vi phạm tội; nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Chứa mại dâm”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;Về tang vật : Đối với : 01(một) vỏ bao cao su nhãn hiệu VIP và 01 (một) ruột bao cao su đã qua sử dụng (K, H1 sử dụng khi mua bán dâm- quan hệ tình dục) đây là tang vật của vụ án, không có giá trị sử dụng , vì vậy cần tịch T2 tiêu hủy; Đối với số tiền 250.000đ do Nguyễn Văn K tự nguyện nộp, đây được xác định là số tiền T2 lời bất chính từ liên quan hành vi phạm tội của bị cáo do đó cần tịch T2 sung công quỹ Nhà nước. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Phần tranh luận tại pH1 tòa, bị cáo Nguyễn Thị H không tranh luận gì, chỉ xin HĐXX khoan hồng cho bị cáo, cho bị cáo cơ hội sửa sai.

[3] Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đâu. Bị cáo xin Tòa án giảm nhẹ hình phạt và khoan hồng cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại pH1 tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Vì, của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại pH1 tòa, bị cáo không có khiếu nại. Do đó, các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét hành vi nguy hiểm của bị cáo bị truy tố:

Tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản T2 giữ tang vật, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; qua tranh tụng tại pH1 tòa thể hiện: Khoảng 22h ngày 14/11/2022 Nguyễn Thị H đã có hành vi chứa chấp 01 đôi nam nữ là Sa Thị H1 và Nguyễn Văn K thực hiện hành vi mua bán dâm với giá 250.000đ/ lượt tại phòng nghỉ ở cơ sở kinh doanh tắm nước khoáng nóng biển hiệu “ Tắm nóng” tại thôn 5, xã TM, huyện Ba Vì, Tp Hà Nội do H làm chủ. Khi H1 và K đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Cơ quan CSĐT-CA huyện Ba Vì bắt quả tang.

Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm”, quy định tại Khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh đã viện dẫn là có căn cứ.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự công công, đạo đức xã hội; ảnh hưởng đến T2ần phong mỹ tục của người Việt, làm mất trật tự trị an của địa phương, bất bình trong quần chúng nhân dân. Ngoài ra, “hoạt động mại dâm” là một tệ nạn xã hội, có thể là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS và các bệnh truyền nhiễm khác. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm bằng pháp luật hình sự và áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại pH1 tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Qua phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo như trên, HĐXX xét thấy cần áp dụng Điều 38 BLHS cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung.

Đối với tội phạm về mại dâm, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, tịch T2 một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử, xét bị cáo Nguyễn Thị H có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản riêng lớn, không có khả năng thi hành án vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với : 01(một) vỏ bao cao su nhãn hiệu VIP và 01 (một) ruột bao cao su đã qua sử dụng (K, H1 sử dụng khi mua bán dâm- quan hệ tình dục) đây là tang vật liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo, không có giá trị sử dụng , vì vậy cần tịch T2 tiêu hủy.

Đối với số tiền 250.000đ do Nguyễn Văn K tự nguyện nộp, đây được xác định là số tiền T2 lời bất chính liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo do đó cần tịch T2 sung công quỹ Nhà nước.

Các vấn đề khác: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6 Plus, màu trắng, số IMEI: 354387063044005, lắp sim số: 0325265165 của Sa Thị H1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen, có số Imei 1: 354813606178406; số Imei 2: 356766636178408; lắp sim số 0984470615 của Nguyễn Thị H ; Số tiền 11.710.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm mười nghìn đồng) T2 trên người của Nguyễn Thị H.

Qua xác minh, 02 chiếc điện thoại di động nêu trên H và H1 khai dùng để liên lạc với bạn bè và số tiền 11.710.000 đồng của H là tiền công nhận làm may gia công vừa được thanh toán , không liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án. Ngày 30/11/2022, Cơ quan CSĐT-CA huyện Ba Vì ra Quyết định xử lý vật chứng số 98 đối với 03 tài sản trên bằng hình thức trả lại tài sản cho chủ sở hữu là có căn cứ. Ngày 30/11/2022, Nguyễn Thị H, Sa Thị H1 đã được nhận lại tài sản là đúng quy định Pháp luật.

Ngày 30/11/2022, căn cứ Điều 24, Điều 25 Nghị định 144 ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ANTT, Công an huyện Ba Vì đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 854, 855 đối với Sa Thị H1 về hành vi bán dâm- hình thức phạt Cảnh cáo và đối với Nguyễn Văn K về hành vi mua dâm- hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức T2, miễn, giảm, T2, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 12 ( mười hai) tháng tù giam, về tội“Chứa mại dâm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/11/2022 đến ngày 23/11/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Biện pháp tư pháp:

2.1. Tịch T2 tiêu hủy: 01(một) vỏ bao cao su nhãn hiệu VIP và 01 (một) ruột bao cao su đã qua sử dụng .

Toàn bộ vật chứng này hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/02/2023.

2.2. Tịch T2 sung nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền này hiện lưu giữ tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Ba Vì tại số tài khoản 2210010000001 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì, theo Lệnh thanh toán và giấy nộp tiền lập ngày 31/01/2023.

3. Về án phí: Bị cáo H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại pH1 tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ