- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lô Văn Đ - Tàng trữ TP ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Lô Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HS-ST Ngày: 28/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ma Thị Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mã Thị Thương Oanh và bà Nguyễn Thị Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ưu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Hứa Thị Hồng Tươi và ông Nông Thiêm Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/HSST, ngày 24 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Lô Văn Đ (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 06/3/1998 tại huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lô Văn T (đã chết) và bà Triệu Thị H; vợ con: chưa có; tiền án: Không. Tiền sự: 01 (một) ngày 30/6/2022 bị UBND thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể xử phát 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
Nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, học đến lớp 6/12 thì nghỉ học ở nhà lao động tự do tại xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/01/2023 đến ngày 12/01/2023 thì được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
- Bà Trần Thị T, sinh năm 1956. Vắng mặt.
- Ông Trương Văn , sinh năm 1973. Vắng mặt.
Đều trú tại: T, thị trấn C, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 15 giờ ngày 03/01/2023 tại t, thị trấn C, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Tổ công tác Công an huyện Ba Bể phối hợp với Công an thị trấn C, huyện Ba Bể tiến hành bắt người phạm tội quả tang đối với Lô Văn Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ và niêm phong 01 (một) gói ma túy, loại Heroine vào phong bì ký hiệu A1 (Tiến hành cân xác định khối lượng được là 0,14 gam, niêm phong 0,14 gam chất màu trắng dạng cục, bột vào phong bì ký hiệu B1 gửi giám định); thu giữ 01 xi lanh (bơm kim tiêm) và 01 (một) lọ nước cất niêm phong trong phong bì ký hiệu A2.
Tại cơ quan điều tra Lô Văn Đ khai nhận: Bản thân là người sử dụng ma túy nên khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/01/2023, Đ đi xe ô tô khách từ nhà ở xã Cg, huyện Pác Nặm đến thị trấn C, huyện Ba Bể mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Đ đến khu vực gần Trung tâm y tế huyện Ba Bể thuộc tiểu khu 2, thị trấn C, huyện Ba Bể, do trước đó Đ biết ở khu vực này hay tụ tập nhiều người nghiện ma túy, tại đây Đ thấy một người đàn ông không quen biết có biểu hiện là người nghiện chất ma túy nên Đ hỏi mua ma túy và đưa cho người đó 100.000 đồng thì được người đó bán cho 01 (một) gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, Đ đi đến một cửa hàng thuốc mua một chiếc xi lanh và một lọ nước cất rồi đi bộ lên bãi san thuộc T, thị trấn C, huyện Ba Bể tìm chỗ sử dụng ma túy, chưa kịp sử dụng thì bị cơ quan Công an phát hiện, Đ tự nguyện khai báo đang cất giấu ma túy trong túi quần đằng trước bên trái đang mặc, Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 gói nhỏ ma túy dạng cục, bột màu trắng có khối lượng là 0,14 g (Không phẩy một bốn gam).
Tại Kết luận giám định số: 27/KTHS-MT ngày 07/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục, bột trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,14g (Không phẩy một bốn gam).
Tại bản cáo trạng số: 15/CT-VKSBB ngày 22/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Lô Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự;
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a)....
c) Heroine..... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam;
.............
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo. Đề nghị tuyên bố bị cáo Lô Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 03/01/2023 đến ngày 12/01/2023.
Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01(một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T22 bên trong có chứa: Mẫu chất còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ; tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “vụ Lô Văn Đ (1998) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T22”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01(một) phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì niêm phong và giấy gói cũ vụ Lô Văn Đ; 01 (một) phong bì ký hiệu A2, bên trong có: 01 (một) chiếc xi lanh (Bơm kim tiêm) và 01 (một) lọ nước cất; 01 (một) quần dài bằng vải, màu đen, quần cũ đã qua sử dụng, trên quần có chữ “LOUIS VUITTON”, niêm phong trong túi nilon.
* Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Bị cáo thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, đề nghị xem xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như Viện kiểm sát truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai: Hồi 15 giờ ngày 03/01/2023 tại t, thị trấn C, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Lô Văn Đ đã có hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp 0,14 gam (Không phẩy một bốn gam) chất ma túy (loại Heroine). Mục đích Lô Văn Đ tàng trữ trái phép chất ma túy là phục vụ cho nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Lô Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, làm gia tăng tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy: Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo không phải chịu tình tiết nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua với một người đàn ông không quen biết tại khu vực T, thị trấn C, huyện Ba Bể vào ngày 03/01/2023, nhưng do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ của người đàn ông này nên không có cơ sở để điều tra xác minh.
. Về vật chứng: Các vật chứng cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy: 01(một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T22 bên trong có chứa: Mẫu chất còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ; tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “vụ Lô Văn Đ (1998) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T22”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01(một) phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì niêm phong và giấy gói cũ vụ Lô Văn Đ; 01 (một) phong bì ký hiệu A2, bên trong có: 01 (một) chiếc xi lanh (Bơm kim tiêm) và 01 (một) lọ nước cất; 01 (một) quần dài bằng vải, màu đen, quần cũ đã qua sử dụng, trên quần có chữ “LOUIS VUITTON”, niêm phong trong túi nilon.
. Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về án phí: Căn cứ Điều 12, 14, 15 - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Bị cáo thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, nên bị cáo đủ điều kiện miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Lô Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lô Văn Đ: 12 (Mười hai) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 03/01/2023 đến ngày 12/01/2023.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01(một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T22 bên trong có chứa: Mẫu chất còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ; tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “vụ Lô Văn Đ (1998) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T22”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01(một) phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì niêm phong và giấy gói cũ vụ Lô Văn Đ; 01 (một) phong bì ký hiệu A2, bên trong có: 01 (một) chiếc xi lanh (Bơm kim tiêm) và 01 (một) lọ nước cất; 01 (một) quần dài bằng vải, màu đen, quần cũ đã qua sử dụng, trên quần có chữ “LOUIS VUITTON”, niêm phong trong túi nilon.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 24/3/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể)
* Về án phí: Căn cứ Điều 12, 14, 15 - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lô Văn Đ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND H.Ba Bể 1; - VKSND tỉnh Bắc Kạn 1; - CA huyện Ba Bể 2; - Bị cáo 1; - TA tỉnh Bắc Kạn 1; - Sở tư pháp 1; - THADS 1; - Lưu HSVA, lưu trữ ; HỘI THẨM NHÂN DÂN Mã Thị Thương Oanh + Nguyễn Thị Nga | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ma Thị Nguyên THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Thị Nguyên |