- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoàng N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điề…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng N. Sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HS-PT Ngày: 28 - 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Ngân
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Hoàng Lâm
Ông Hồ Văn Luông
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hứa Minh Thạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 121/2022/TLPT-HS ngày 28 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo Trần Hoàng N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2022/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Hoàng N, sinh năm: 1968, tại: Thành phố C, tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nơi ở: thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh T (chết) và bà Nguyễn Thị L; sống như vợ chồng với chị La Thanh T2 và có 02 người con (lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2012); tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt ngày 25/5/2022 sau đó chuyển tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 25/5/2022, Trần Hoàng N đi bộ ra cầu Kinh Hậu thuộc thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang gặp một người thanh niên (không rõ nhân thân) để mua một bịch ma tuý dạng đá với giá 1.600.000 đồng, sau đó bị cáo cất ma tuý vào túi quần nhỏ phía trước bên phải và đi về nhà.
Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, bị cáo lấy bịch ma tuý ra cắt thành hai bịch nhỏ và lấy ra một ít để vào bộ dụng cụ tự chế rồi sử dụng một mình trong phòng ngủ của bị cáo, sử dụng xong bị cáo để bộ dụng cụ tự chế ở góc tủ trong phòng ngủ, còn hai bịch ma tuý thì bị cáo cất vào túi quần nhỏ phía trước bên phải đang mặc trên người. Sau đó bị cáo chở con là Trần Hạo N2 và chị La Thanh T2 đi chơi rồi về nhà. Sau khi về nhà thì có Lê Ngọc T1 và Nguyễn Hoàng N1 đến nhà chơi nên bị cáo rủ T1 và N1 vào phòng ngủ ngồi nói chuyện, được vài phút thì bị cáo lấy ma tuý ra để vào bộ dụng cụ tự chế rồi rủ “ai có chơi thì ngồi chơi”, nói xong thì bị cáo sử dụng ma tuý trước rồi đến Nguyễn Hoàng N1 và Lê Ngọc T1 sử dụng, còn chị La Thanh T2 đang ngồi tải ví Momo và đếm tiền trong phòng, nên chưa sử dụng ma tuý thì bị Công an huyện Vị Thuỷ đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Tiến hành khám xét, Công an huyện Vị Thuỷ thu giữ đồ vật, tài liệu gồm: hai bịch nylon được hàn kín, bên trong có chứa các tinh thể trong suốt (nghi là ma tuý đá); một bộ dụng cụ tự chế dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý (một nỏ thuỷ tinh bên trong có bám chất màu trắng, một bình thuỷ tinh hình đầu lâu, một ống nhựa màu trắng); tiền Việt Nam 615.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 300/KL-KTHS ngày 30/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hậu Giang, kết luận về đối tượng giám định:
“1. Mẫu ký hiệu M1: Mẫu tinh thể chứa trong 01 (một) dụng cụ thuỷ tinh được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,07357 gam, loại Methamphetamine.
2. Mẫu ký hiệu M2: Mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 02 (hai) bịch nylon được niêm phong gửi giám định đều là ma tuý, có tổng khối lượng: 4,06400 gam, loại Methamphetamine”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2022/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hoàng N 10 (mười) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hoàng N 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo Trần Hoàng N phải chấp hành 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/2022.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 30/11/2022, bị cáo Trần Hoàng N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:
Bị cáo Trần Hoàng N nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên việc xét xử phúc thẩm được chấp nhận.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Hoàng N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, xử phạt bị cáo N mức án 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là tương xứng, đối với mức án 10 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có phần nghiêm khắc, bởi bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đề nghị chấp nhận giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo mức án 08 năm tù. Từ những phân tích, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo N, sửa bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về gia đình làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Trần Hoàng N có đơn kháng cáo đúng theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Qua kết quả tranh tụng, đối chiếu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định như sau: Vào lúc 21 giờ 40 phút, ngày 25/5/2022, Công an huyện Vị Thủy tiến hành kiểm tra và bắt quả tang bị cáo Trần Hoàng N cùng Lê Ngọc T1, Nguyễn Hoàng N1 đang sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ nhà của bị cáo N và thu giữ 02 bịch nylon được hàn kín bên trong có chứa các tinh thể trong suốt trên người bị cáo N và 01 đoạn ống thủy tinh bên trong có bám chất rắn màu trắng, theo Kết luận giám định số 300/KL-KTHS ngày 30/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hậu Giang là ma túy, loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 4,13757 gam. Quá trình điều tra chứng minh được bị cáo N mua số lượng ma túy trên của một người nam thanh niên khoảng 35 tuổi (không rõ nhân thân) để dùng vào mục đích sử dụng. Ngoài ra, khi Lê Ngọc T1, Nguyễn Hoàng N1 đến nhà bị cáo N chơi thì bị cáo cung cấp ma túy để cùng sử dụng. Hành vi của bị cáo Trần Hoàng N đã đủ yếu tố cầu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo nhận thức được ma túy là chất cấm, nhưng chỉ vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân do đã nghiện ma túy, nên bị cáo vẫn tàng trữ để sử dụng và còn cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ để người khác thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy, đây là nguồn gốc phát sinh tội phạm, nhiều tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu. Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và một số tình tiết giảm nhẹ như chấp hành tốt nội quy nhà tạm giữ, tạm giam, cha bị cáo là cán bộ ngành Hải quan, có hai con nhỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Tuy nhiên, mức án 10 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có phần nghiêm khắc, bởi lẽ bị cáo phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành thật khai báo, ăn năn hối cải, nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng N. Sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hoàng N 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hoàng N 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo Trần Hoàng N phải chấp hành 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/2022.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hậu Giang; - CA tỉnh Hậu Giang (PC11, PV06); - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang; - TAND, VKSND, CQĐT, Chi cục THADS huyện Vị Thủy; - Chính quyền nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Ngân |