- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thanh P - Lê Hoàng A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thanh P đối với bà Lê Hoàng A.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST Ngày 07-03-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hải
Ông Đặng Song Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 13/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07A/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Thanh P, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Xã B, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Lê Hoàng A, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Số 40A đường C, Phường H, thành phố T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tố tụng tại tòa nguyên đơn ông Phạm Thanh P trình bày:
Ông và bà Lê Hoàng A tự nguyện tìm hiểu khoảng hơn 01 năm, không tổ chức đám cưới nhưng có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố T vào năm 2014. Sau khi sống chung thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đầu tháng 9 năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính chất công việc nên ông đi làm ăn xa vài ngày mới về nhà một lần và ông giao con cho bà A chăm sóc nhưng trong khoảng thời gian này ông phát hiện bà A có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác nên bà A thường xuyên bỏ nhà ra ngoài sống chung với người ta. Sự việc này ông đã bắt gặp và khuyên bảo bà A nhưng bà A không thay đổi vẫn tính nào tật nấy. Từ đầu tháng 9/2022, hai vợ chồng sống ly thân với nhau. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay, ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu ly hôn với bà Lê Hoàng A.
Về con chung: Ông và bà A có 01 con chung tên Phạm Hoàng Thanh N, sinh ngày 30-12-2014. Ông có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Lê Hoàng A mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Ông Phạm Thanh P yêu cầu ly hôn với bà Lê Hoàng A có địa chỉ cư trú tại thành phố T. Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là vụ án “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Thanh P vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Hoàng A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
. Về nội dung:
. Ông Phạm Thanh P và bà Lê Hoàng A tự nguyện tìm hiểu, chung sống có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.
. Xét về tình trạng hôn nhân giữa ông P và bà A thì thấy: Theo ông P nguyên nhân mâu thuẫn là do ông phát hiện bà A có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác nên bà A thường xuyên bỏ nhà ra ngoài sống chung với người ta. Sự việc này ông đã bắt gặp và khuyên bảo bà A nhưng bà A không thay đổi vẫn tính nào tật nấy. Từ đầu tháng 9/2022, hai vợ chồng sống ly thân với nhau. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau.
. Theo xác minh tại địa phương ông Phạm Thanh P và bà Lê Hoàng A cư trú tại địa chỉ số 40A đường C, Phường H, thành phố T từ năm 2015. Ông P làm nghề lái xe nên hay vắng nhà. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa ông P và bà A thì đại diện địa phương không nắm rõ do tại địa phương ông P và bà A không xảy ra xô xát, cãi vã to tiếng và cũng không yêu cầu hòa giải ở cơ sở. Khoảng 03 tháng gần đây ông P đã đưa cháu Phạm Hoàng Thanh N đi nơi khác sinh sống.
. Xét thấy, mâu thuẫn xảy ra trong quan hệ vợ chồng giữa ông P và bà A là có thật, vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả.Vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, không có khả năng hàn gắn tình cảm. Do vậy, mâu thuẫn hôn nhân là trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông P là phù hợp.
. Về con chung: Ông Phạm Thanh P và bà Lê Hoàng Acó 01 con chung tên Phạm Hoàng Thanh N, sinh ngày 30-12-2014. Ông P có nguyện vọng nuôi con chung vả lại cháu N có nguyện vọng ở với bố nên xem xét giao cháu N cho ông P nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông P không yêu cầu bà A cấp dưỡng nên không xem xét.
. Về tài sản chung và nợ chung: Ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Thanh P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thanh P đối với bà Lê Hoàng A.
1. Về hôn nhân: Ông Phạm Thanh P ly hôn với bà Lê Hoàng A.
2. Về con chung: Ông P và bà A có 01 con chung tên Phạm Hoàng Thanh N, sinh ngày 30-12-2014. Ông Phạm Thanh P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Hoàng Thanh N. Ông P không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi con.
Bà Lê Hoàng A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của con, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Thanh P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003722 ngày 29-12-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Tp. Vũng Tàu; - TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - Chi cục THADS Tp. Vũng Tàu; - UBND Phường H, thành phố T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI Đ NG XÉT X SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Hƣơng |