- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phượng Tới"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Hồng P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/ HNGĐ - ST Ngày 17 tháng 4 năm 2023 "V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Duy Chinh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nhung.
2. bà Nguyễn Thị Thúy Mai.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Hoàng Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc- Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 4 năm 2023, Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số 87/2023/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐST - HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Hồng P, sinh năm 1987 (Có mặt)
HKTT: Xóm QV 3, xã T, huyện Đ, T
Tạm trú: Tổ 7, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Bị đơn: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1986 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 53A, khu 6A, phường HP, thành phố HP, tỉnh Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện;bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Hồng P trình bày: Tôi kết hôn với anh Đỗ Văn T vào ngày 27/02/2006 và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện K, thành phố H. Trước khi kết hôn chúng tôi tự nguyện tìm hiểu, không có ai bị lừa dối, ép buộc. Đến năm 2020 thì vợ chồng tôi ly thân, tôi không còn ở với anh T cho đến nay.
Về tình cảm vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: Thời gian đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, nhưng sau đó nảy sinh nhiều mâu thuẫn hay cãi cọ nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng trong lối sống nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn.
Hiện nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Đỗ Trần Bảo N, sinh ngày 24/7/2017, cháu Đỗ Quang L, sinh ngày 20/11/2006 và cháu Đỗ Trần Ánh P, sinh ngày 13/8/2015, hiện các con đang ở với tôi. Khi ly hôn tôi đề nghị Tòa án giao cả 03 con chung cho tôi chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì hiện tại các con đang ở với tôi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi và anh T tự thỏa thuận. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung, các khoản cho vay chung:
Về tài sản chung: Vợ chồng tôi không có gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chúng tôi không nợ ai, không cho ai nợ.
Ý kiến của bị đơn anh Đỗ Văn T: Tôi và chị Trần Hồng P kết hôn ngày 27/02/2006, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, thành phố H. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, vợ chồng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Tôi và chị P đã ly thân từ cuối năm 2020 đến nay.
Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên giải quyết ly hôn cho tôi và chị P để chúng tôi sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Đỗ Trần Bảo N, sinh ngày 24/7/2017, cháu Đỗ Quang L, sinh ngày 20/11/2006 và cháu Đỗ Trần Ánh P, sinh ngày 13/8/2015. Nếu vợ chồng ly hôn, tôi nhất trí để chị P nuôi cả 03 con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã giao các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh T, tuy nhiên anh T có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt, do vậy không có mặt tại các phiên hòa giải và tiếp cận công khai chứng cứ được. Do đó phải mở phiên tòa xét xử công khai ngày hôm nay.
Tại phiên tòa, chị P giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Tại phiên tòa đại diện VKS phát biểu: Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án theo quy định. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX xem xét cho chị P được ly hôn anh T. Về con chung: Giao 03 con chung cho chị P chăm sóc nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Không xem xét giải quyết vì đương sự không yêu cầu.
Về tài sản chung, và nợ chung: Không có và không yêu cầu.
Về án phí chị P phải chịu án phí theo quy định. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình, bị đơn anh T có hộ khẩu tại Tổ 53A, khu 6A, phường HP, thành phố HP, tỉnh Q. Chị P và anh T có đơn lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên giải quyết vụ án, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Đỗ Văn T để tham gia tố tụng tại phiên tòa. Tuy nhiên anh T có đơn xin vắng mặt giải quyết và xét xử. Tại phiên tòa chị P đề nghị xét xử vắng mặt anh T, đại diện VKS đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử Quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Trần Hồng P và anh Đỗ Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại UBND xã H, huyện K, thành phố H vào năm 2006, là cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định nên là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên nhân dẫn đến vợ chồng ly hôn là do trong cuộc sống chung không hợp nhau và phát sinh mâu thuẫn căng thẳng do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và anh T đã chuyển ra sinh sống tại thành phố HP, tỉnh Q và đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay và không ai quan tâm đến ai.
Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn, anh T cũng xác định không còn tình cảm nhất trí ly hôn.
Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên nên cần chấp nhận đơn khởi kiện về ly hôn của chị P, cho chị P được ly hôn anh T là phù hợp với thực tế và đúng quy định tại các Điều 51, 56 luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Đỗ Trần Bảo N, sinh ngày 24/7/2017, cháu Đỗ Quang L, sinh ngày 20/11/2006 và cháu Đỗ Trần Ánh P, sinh ngày 13/8/2015, hiện các con đang ở với chị P. Chị P nhận nuôi 03 con chung, anh T nhất trí để chị P nuôi 03 con và nguyện vọng của 02 cháu đều được ở với chị P. Do đó cần giao cho chị P nuôi dưỡng 03 con chung là cháu N, cháu L và cháu P cho đến khi khôn lớn trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Anh T được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung theo quy định.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu. Tòa án không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Về án phí: Chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227; 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58 và Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Hồng P.
Cho chị Trần Hồng P được ly hôn anh Đỗ Văn T.
2. Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Đỗ Trần Bảo N, sinh ngày 24/7/2017, cháu Đỗ Quang L, sinh ngày 20/11/2006 và cháu Đỗ Trần Ánh P, sinh ngày 13/8/2015 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung khôn lớn trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
Anh T được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Khi xét thấy cần thiết hoặc do điều kiện sống có sự thay đổi, vợ chồng có thỏa thuận khác phù hợp với quy định của pháp luật và vì lợi ích của con chung, các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản và các khoản nợ chung: Không có.
4. Về án phí: Chị Trần Hồng P phải chịu 300.000đ án phí Ly hôn sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 000657 ngày 24/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Về quyền kháng cáo: Báo cho chị P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Thái Nguyên - VKSND thành phố Thái Nguyên; - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên; - UBND xã H, K;tỉnh H; - Lưu hồ sơ. - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VŨ DUY CHINH |