- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xét xử vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” giữa bà Phạm Kim Đ đối với ông Đinh Thanh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Kim Đ về việc “Ly hôn” đối với ông Đinh Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG Bản án số 18/2023/HNGĐ-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày 02.6. 2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Nhớ và ông Trần Trung Nam.
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Lê Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Minh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 30/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 2 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXX-ST ngày 20 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Phạm Kim Đ, sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 39 đường T, phường G, quận K, thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú hiện nay: K02/6 đường C, quận K, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
* Bị đơn: Ông Đinh Thanh T, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số 39 đường T, phường G, quận K, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Đinh Thanh T đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Quảng Trị. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung, ông T thường ăn nhậu rồi gây gỗ, đánh đập tôi. Vì hôn nhân không hạnh phúc nên chúng tôi đã sống ly thân mấy năm nay. Mặc dù tôi đã cố gắng hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Hiện nay, tôi xác định không còn tình cảm với ông T, hôn nhân không thể hàn gắn được nữa nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông T.
- Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung tên Đinh Chí T1, sinh ngày 12.11.2016 và Đinh Triệu M, sinh ngày 20.01.2020. Ly hôn, tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đinh Thanh T để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng ông T đều không có mặt nên không có ý kiến trong hồ sơ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng đã xác định: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đối với nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để cho bà Phạm Kim Đ được ly hôn với ông Đinh Thành T. Về con chung, giao 02 con chung cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa bà Phạm Kim Đ và ông Đinh Thanh T là tranh chấp về hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ cư trú ở địa bàn quận Thanh Khê nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn là ông Đinh Thanh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt ông T.
Về nội dung vụ án:
Quan hệ hôn nhân: Bà Đ ông T kết hôn năm 2017, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Quảng Trị, đây là hôn nhân tự nguyện và đảm bảo các quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được thừa nhận và bảo vệ.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà Đ, ông T đã phát sinh mâu thuẫn. Bà Đ xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông T thường xuyên rượu chè bê tha và gây gỗ vợ con. Mâu thuẫn kéo dài đến nay vẫn không khắc phục được. Hội đồng xét xử thấy rằng, cuộc sống vợ chồng của bà Đ ông T thực sự đã phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã làm các thủ tục để tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T vẫn không đến Tòa án để giải quyết việc bà Đ yêu cầu ly hôn và không gửi cho Tòa án ý kiến của mình chứng tỏ ông T không có thiện chí trong việc hàn gắn gia đình. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, hạnh phúc gia đình không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ về việc ly hôn với ông T là phù hợp.
Về con chung: Vợ chồng bà Đ ông T có 02 con chung tên Đinh Chí T1, sinh ngày 12.11.2016 và Đinh Triệu M, sinh ngày 20.01.2020. Ly hôn, bà Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Về tiền trợ cấp nuôi con, trong đơn khởi kiện bà Đ yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 20.000.0000đ. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bà Đ không yêu cầu ông T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Đ phải chịu 300.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị Quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Kim Đ về việc “Ly hôn” đối với ông Đinh Thanh T.
2. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Kim Đ được ly hôn với ông Đinh Thanh T.
- Về con chung: Giao 02 con chung là tên Đinh Chí T1, sinh ngày 12.11.2016 và Đinh Triệu M, sinh ngày 20.01.2020 cho bà Phạm Kim Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên (18 tuổi), ông T không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Bên không nuôi con vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, bà Phạm Kim Đ phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Đ đã nộp theo biên lai thu số 8753 ngày 08.02.2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Bà Đ đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Q. Thanh Khê; - Chi cục THSDS Q. Thanh Khê; - UBND xã T; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Cường |