vanban.org

Bản án 18/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị Kiều L được ly hôn Anh Lý Trường A.

Về quan hệ con chung: Giao cho chị Đặng Thị Kiều L trực tiếp nuôi con chung Lý Thu P, sinh ngày 04/3/2017, việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết, khi nào đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ, việc dân sự khác. Anh Lý Trường A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Linh - An"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị Kiều L được ly hôn Anh Lý Trường A.
  • Căn cứ chính? Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 3 -2023
V/v Tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiểu và bà Tô Thị Hương.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiền Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 209/2022/TLST - HNGĐ ngày 18/11/2022 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2023/QĐST-HNGĐ ngày 01/3/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Kiều L, sinh năm 1996 (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Thái Bình

- Bị đơn: Anh Lý Trường A, sinh năm 1996 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn - chị Đặng Thị Kiều L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và Anh Lý Trường A tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đăng ký kết hôn vào ngày 25 tháng 10 năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc được khoảng 02 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, Anh A bỏ bê gia đình và chi tiêu tiền không hợp lý. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị và Anh A đã sống ly thân khoảng từ năm 2019 đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay lại chung sống cùng nhau được nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn Anh A.

Về quan hệ con chung: Chị và Anh A có 01 con chung là Lý Thu P, sinh ngày 04/3/2017 hiện nay đang ở cùng với gia đình Anh A. Quá trình tố tụng tại Tòa thì chị muốn nhường cho Anh A trực tiếp nuôi con, nhưng chị thấy Anh A thường xuyên đi làm ăn xa nên tại phiên tòa chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu Anh A phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về quan hệ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn: Tòa án đã triệu tập bị đơn là Anh Lý Trường A nhiều lần nhưng Anh A không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh và lấy lời khai của mẹ đẻ Anh A là bà Đặng Thị Ph, sinh năm 1977, trú tại thôn V, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/12/2022 bà Phượng trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý Trường A và chị Đặng Thị Kiều L tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đăng ký kết hôn vào ngày 25 tháng 10 năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại xã Đ một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau và hiện nay Anh A và chị L đã sống ly thân. Nay chị L có đơn xin ly hôn Anh A, quan điểm của bà là bà mong muốn Anh A chị L đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cái, tuy nhiên quyền quyết định vẫn là do Anh A và chị L quyết định.

Về quan hệ con chung: Chị L và Anh A có 01 con chung là Lý Thu P, sinh năm 2017 hiện đang ở cùng gia đình nhà nội. Nếu Anh A và chị L ly hôn thì nguyện vọng của gia đình bà là muốn tiếp tục được nuôi cháu P và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con nếu chị L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con thì gia đình không có ý kiến gì.

Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không có gì.

Hiện tại Anh A đang đi làm ăn ở Hà Nội không có mặt ở nhà tuy nhiên ở địa chỉ nào thì bà không biết, Anh A vẫn thường xuyên về nhà để chăm sóc cháu Phương và hàng tháng gửi tiền về nhờ bà trong nom cháu Phương. Bà đã nhận được các văn bản tố tụng do Tòa án giao, bà cũng đã giao lại hết cho Anh A.

Kết quả xác minh tại UBND xã Đ thể hiện: Chị Đặng Thị Kiều L và Anh Lý Trường A kết hôn là tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã Đ, Tiền Hải, Thái Bình vào ngày 25/10/2016. Sau khi kết hôn thì vợ chồng Anh A chị L có 01 con chung là Lý Thu P, sinh năm 2017, hiện đang ở cùng Anh A và gia đình nhà nội. Vê tài sản chung và công nợ chung, địa phương không nắm được. Nay chị L có đơn xin ly hôn Anh A, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, nếu chị L không có nguyện vọng nuôi con thì đề nghị Tòa tiếp tục giao con cho Anh A nuôi dưỡng.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án , nguyên đơn là chị L đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn là Anh Lý Trường A không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Đặng Thị Kiều L được ly hôn Anh Lý Trường A. Giao cho chị Đặng Thị Kiều L trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Lý Thu P, sinh ngày 04/3/2017, việc cấp dưỡng nuôi con chị L không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Xét thấy nguyên đơn là chị Đặng Thị Kiều L khởi kiện xin ly hôn Anh Lý Trường A, Anh A có hộ khẩu thường trú tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã thụ lý và giải quyết yêu cầu của chị L là đúng thẩm quyền.

Bị đơn là Anh Lý Trường A vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt Anh A là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ. Vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng với quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Kiều L và Anh Lý Trường A tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền là Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình vào ngày 25/10/2016 nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị L Anh A chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc được đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyễn nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau. Anh Avà chị L đã không còn chung sống với nhau từ năm 2019 đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị L và Anh A đã trầm trọng, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị L, xử cho chị L được ly hôn Anh A là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Xét thấy con chung của chị L và Anh A còn nhỏ và lại là con gái nên cần sự chăm sóc của người mẹ, chị L có nguyện vọng nuôi con, Anh A đi làm ăn xa không có mặt ở nhà để trực tiếp trông nom, chăm sóc con nên cần chấp nhận nguyện vọng của chị L, cần giao cho chị L trực tiếp nuôi con chung Lý Thu P, sinh ngày 04/3/2017 là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị L không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết, khi nào đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ, việc dân sự khác.

Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Chị Đặng Thị Kiều L không yêu cầu Tòa án giải quyết, Anh Lý Trường A không có văn bản thể hiện quan điểm của mình, nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Đặng Thị Kiều L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị Kiều L được ly hôn Anh Lý Trường A.

2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Đặng Thị Kiều L trực tiếp nuôi con chung Lý Thu P, sinh ngày 04/3/2017, việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết, khi nào đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ, việc dân sự khác.

Anh Lý Trường A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

3. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đặng Thị Kiều L phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng chị L đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0002562 ngày 22/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải thành án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Đặng Thị Kiều L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, Anh Lý Trường A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

Héi thÈm nh©n d©n

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ

Nguyễn Thị Nhi

Cỡ chữ