vanban.org

Bản án 18/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Đặng Bích N; Xử cho bà Đặng Bích N được ly hôn với ông Nguyễn Nhật T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng A, sinh ngày 14-10-2019 cho bà Đặng Bích N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Nhật T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Bích N - Nguyễn Nhật T - T/C ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Đặng Bích N; Xử cho bà Đặng Bích N được ly hôn với ông Nguyễn Nhật T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21-3-2023
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thủy

2. Ông Phạm Hồng Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền: Ông Vũ Văn Long.

Ngày 21 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 276/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXX-ST ngày 07 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10A/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Bích N – sinh năm 1996; Địa chỉ: 115/39B, đường L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Nhật T – sinh năm 1994; Địa chỉ: T56, tổ A ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Đặng Bích N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Bích N và ông Nguyễn Nhật T chung sống vợ chồng với nhau có chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 17/7/2019 theo đúng quy định của pháp luật tại UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, đến đầu năm 2022 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, rạn nứt về tình cảm, không còn có thể gắn kết được nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T thường xuyên làm ăn thua lỗ, nợ nần, bà N đã trả nợ nhiều lần cho ông T nhưng sự việc cứ như vậy, không có chiều hướng thay đổi dẫn đến tình cảm, lòng tin không còn. Ngoài nguyên nhân làm ăn thua lỗ ra thì ông T còn ăn chơi không chăm lo cho cuộc sống gia đình, không có sự chia sẻ đồng cảm với nhau, không đồng nhất ý kiến gia đình, vợ chồng không thống nhất giải quyết được mâu thuẫn với nhau nên thường xuyên cãi nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống của cả hai bên. Do đó, bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Nhật T để mỗi người ổn định cuộc sống riêng của mình.

- Về con chung: Bà Đặng Bích N và ông Nguyễn Nhật T có với nhau 01 người con chung là Nguyễn Trọng A, sinh ngày 14-10-2019. Khi ly hôn, bà N yêu cầu trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tải sản và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Nhật T: Tại biên bản xác minh ngày 01-11-2022 của Tòa án, kết quả xác minh ông Nguyễn Nhật T có hộ khẩu thường trú tại xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Hiện ông T đi làm xa tuy nhiên vẫn đi đi về về thăm gia đình vào những dịp cuối tuần.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự cho ông T, tuy nhiên ông T không có mặt theo thông báo của Tòa án. Ông T cũng không có văn bản ghi ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà N.

Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Bích N.

Về con chung: Đề nghị giao cháu Nguyễn Trọng A, sinh ngày 14-10-2019 cho bà Đặng Bích N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ theo đơn khởi kiện của bà Đặng Bích N và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Nguyễn Nhật T có hộ khẩu thường trú tại xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Nhật T đến phiên tòa nhưng ông T vắng mặt; căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Nhận thấy, Bà Đặng Bích N và ông Nguyễn Nhật T chung sống vợ chồng với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, hôn nhân dựa trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc nên theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T là hôn nhân hợp pháp. Đối với ông T, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T tham gia phiên tòa tuy nhiên ông T vắng mặt cả hai lần đều không có lý do, có thái độ trốn tránh, không có thiện chí hoà giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng mặc dù vẫn đi đi về về tại địa phương chứng tỏ ông T đã bỏ mặc không quan tâm gì đến quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà N.

Qua các chứng cứ và lời khai của các đương sự chứng tỏ mâu thuẫn gia đình giữa bà N và ông T là có thật và không hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của bà N là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.

Về con chung: Bà Đặng Bích N và ông Nguyễn Nhật T có với nhau 01 người con chung là Nguyễn Trọng A, sinh ngày 14-10-2019. Khi ly hôn, bà N yêu cầu trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy từ khi ly thân đến nay bà N là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu A, hiện nay cháu A còn rất nhỏ nên cần sự quan tâm chăm sóc giáo dục của mẹ, việc làm và thu nhập của bà N cũng ổn định nên Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu A cho bà N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng: Bà Đặng Bích N không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí và lệ phí Tòa án, của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bà Đặng Bích N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm; ông Nguyễn Nhật T không phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Đặng Bích N; Xử cho bà Đặng Bích N được ly hôn với ông Nguyễn Nhật T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng A, sinh ngày 14-10-2019 cho bà Đặng Bích N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Nhật T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Nhật T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá Atổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Đặng Bích N phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0009112, ngày 11 tháng 10 năm 2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền; bà N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Nguyễn Nhật T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bà Đặng Bích N biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21-3-2023). Riêng ông Nguyễn Nhật T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo qui định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ