vanban.org

Bản án 18/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị L.

Xử cho chị Hoàng Thị L ly hôn anh Lê Ngọc Th. Giao con chung Lê Hoàng L, sinh ngày 19/11/2016 cho chị Hoàng Thị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Lê Ngọc Th không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị L- Nguyễn Ngọc Th"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỆ THỦY
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 03 - 8 - 2023
“V/v: Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Học và bà Nguyễn Thị Hồng Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Trong ngày 03 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 33/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1996; Địa chỉ nơi cư trú: Thôn Th, xã Ph, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt. 2. Bị đơn: Anh Lê Ngọc Th, sinh năm 1989; Địa chỉ nơi cư trú: Thôn Th, xã Ph, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt (lần thứ 2).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Hoàng Thị Linh trong đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2023, bản tự khai ngày 05/4/2023, biên bản hòa giải ngày 18/4/2023 và tại phiên tòa trình bày:

Chị Hoàng Thị L và anh Lê Ngọc Th kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 06/7/2016. Sau kết hôn vợ, chồng về chung sống tại nhà bố mẹ anh Th thuộc xã Ph, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Sau một thời gian thì vợ, chồng ra sống riêng. Vợ, chồng sống hạnh phúc cho đến đầu năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ, chồng sống với nhau không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, đến tháng 3 năm 2023 thì vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Chị Hoàng Thị L xác định hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn anh Lê Ngọc Th.

Về con chung: Vợ, chồng có một con chung là Lê Hoàng L, sinh ngày 19/11/2016, hiện nay con đang ở với anh Lê Ngọc Thanh, nếu ly hôn chị Hoàng Thị L có nguyện vọng xin được nuôi con, không yêu cầu anh Lê Ngọc Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

* Bị đơn anh Lê Ngọc Th vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại bản tự khai ngày 05/4/2023; Biên bản hòa giải ngày 18/4/2023 trình bày: Việc kết hôn, chung sống của vợ chồng, anh Lê Ngọc Th cơ bản nhất trí như trình bày của chị Hoàng Thị L. Cuộc sống vợ chồng cũng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nhưng trong thời gian vợ chồng ly thân anh Lê Ngọc Th vẫn còn tình cảm với chị Hoàng Thị L nên anh Lê Ngọc Th mong muốn đoàn tụ vợ chồng để xây dựng gia đình nuôi dạy con cái.

Về con chung: Anh Lê Ngọc Th thừa nhận vợ chồng có một con chung như chị Hoàng Thị L trình bày; mặc dù anh Lê Ngọc Th mong muốn đoàn tụ, nhưng nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì anh Lê Ngọc Th có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị Hoàng Thị L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L xin ly hôn anh Lê Ngọc Th là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con, được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Ngọc Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Như vậy, anh Lê Ngọc Th đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được pháp luật quy định. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Lê Ngọc Th.

Về hôn nhân: Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thì chị Hoàng Thị L và anh Lê Ngọc Th kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ph, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 06/7/2016, nên hôn nhân của chị Hoàng Thị L và anh Lê Ngọc Th là hợp pháp.

Về mâu thuẫn: Theo trình bày của nguyên đơn chị Hoàng Thị L trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thì cuộc sống vợ chồng chung sống hạnh phúc được một khoảng 06 năm, đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn do trong cuộc sống vợ, chồng không có tiếng nói chung nên xảy ra cãi vã, xô xát, nên tình cảm vợ chồng ngày càng mất mát. Quá trình hòa giải anh Lê Ngọc Th cũng xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn như chị L trình bày, nhưng anh Lê Ngọc Thanh cho rằng mâu thuẫn đó chưa trầm trọng, có thể hàn gắn được. Tại phiên tòa, chị Hoàng Thị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn anh Lê Ngọc Thanh.

Qua xem xét, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hoàng Thị L và anh Lê Ngọc Th xảy ra trong một thời dài không thể hàn gắn được, nguyên nhân theo chị Hoàng Thị L là do vợ, chồng không có tiếng nói chung dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Linh, xử cho chị Hoàng Thị L ly hôn anh Lê Ngọc Th là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị Hoàng Thị L và anh Lê Ngọc Th có một con chung là cháu Lê Hoàng L, sinh ngày 19/11/2016, cả chị Hoàng Thị L và anh Lê Ngọc Th đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, đối với con chung Lê Hoàng L giao cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp anh Lê Ngọc Th không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị Hoàng Thị L có đủ điều kiện, khả năng nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng; sau này vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị L.

2. Xử cho chị Hoàng Thị L ly hôn anh Lê Ngọc Th.

3. Giao con chung Lê Hoàng L, sinh ngày 19/11/2016 cho chị Hoàng Thị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Lê Ngọc Th không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lê Ngọc Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

Sau này vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo biên lai số 00046000 ngày 073/2023 (chị Hoàng Thị L đã nộp đủ án phí). Bị đơn anh Lê Ngọc Th không phải chịu án phí.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 03/8/2023) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ