vanban.org

Bản án 18/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Hoàng Quang H1.

Về nuôi con chung: Giao cho chị Lê Thị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung là cháu Hoàng Phương T, sinh năm 2009 cho đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hoàng Quang H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê thị H ly hôn với anh H1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Hoàng Quang H1.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA SÚP
TỈNH ĐĂKLĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 30/8/2023.
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thành Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Bá Duy

2. Bà Bùi Việt Nga

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Súp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Khang– Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Ea Súp mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 182/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXX-ST ngày 01 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2023 ngày 16/8/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyeân ñôn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1989 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: Thôn A, xã E, huyện S, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bò ñôn: Anh Hoàng Quang H1, sinh năm 1989 (Vắng mặt lần thứ hai)

Trú tại: Thôn A, xã E, huyện S, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai; biên bản không tiến hành hòa giải được nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H với anh H1 chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện S, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 26/8/2008. Trong quá trình chung sống vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2009 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tình tình quan điểm sống không hợp nhau, anh H1 không quan tâm đến vợ con, ham chơi, lao vào nghiện ngập. Mâu thuẫn của vợ chồng được hai bên gia đình can thiệp, khuyên bảo anh H1 vẫn không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng thêm, vợ chồng đã sống ly thân với nahu. Nay vợ chồng không còn tình cảm nữa, không thể chung sống với nhau được nữa nên chị H cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Phương T, sinh năm 2009. Nguyện vọng của chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến tuổi trưởng thành. Không yêu cầu anh H1.

Về tài sản chung và công nợ: Chị H tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án nhân dân huyện Ea Súp đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn anh H1 nhưng không đến làm việc, vắng mặt không có lý do chính đáng, nên không thể tiến hành làm bản tự khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Vì vậy, Tòa án huyện Ea Súp căn cứ Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, lập biên bản không tiến hành phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải được.

Quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ kiện, Tòa án huyện Ea Súp đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị Lê Thị H và anh Hoàng Quang H1. Qua xác minh tại địa phương thì được biết chị H và anh H1 là vợ chồng, chung sống với nhau tại thôn A, xã E, quá trình sinh sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn với nhau và đã sống ly thân với nhau.

Quá trình giải quyết vụ án bản thân chị H nhất quyết xin được ly hôn với anh H1, còn anh H1 không đến Tòa án làm việc, nên không thể tiến hành hoà giải được. Do đó căn cứ Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Ea Súp đưa vụ án ra xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Sau khi thụ lý vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng, giao thông báo thụ lý vụ án, giao thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thu thập chứng cứ làm căn cứ giải quyết vụ án. Ra quyết định xét xử, tống đạt hợp lệ quyết định xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Đối với các đương sự, nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh H1. Về con chung đề nghị cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nên không đặt ra để giải quyết.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện, ý kiến của kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Vụ kiện giữa nguyên đơn chị Lê Thị H và anh Hoàng Quang H1 là vụ kiện tranh chấp hôn nhân gia đình. Bị đơn anh Hoàng Quang H1 cư trú tại thôn A, xã E, huyện S, tỉnh Đắk Lắk do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H1, nhưng anh H1 không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện của chị H. Tại phiên tòa, anh H1 vắng mặt lần thứ hai, không phải vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 238 của bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H và anh H1.

Về quan hệ hôn nhân: Tòa án nhận thấy chị Lê Thị H và anh Hoàng Quang H1 cưới nhau trên cơ sở tình yêu và tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Uỷ ban nhân dân xã E, huyện S, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 26/8/2008 theo quy định của pháp luật, nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống, do bất đồng về quan điểm sống, lối sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H1 không quan tâm đến vợ con, không lo làm ăn, lao vào con đường nghiện ngập, mặc dù chị H nhiều lần khuyên can nhưng anh H1 không nghe. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị H và anh H1 sinh sống, thì thì biết được vợ chồng anh H1 và chị H có xảy ra mâu thuẫn xảy ra cãi nhau dẫn đến vợ chồng hiện nay đã sống ly thân với nhau. Quá trình giải quyết tại Tòa án chị H kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh H1. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu cứ kéo dài hôn nhân của các bên cũng không thể mang lại hạnh phúc cho nhau. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 luật Hoân nhân & Gia ñình, Hội đồng xét xử cần xử cho chị H được ly hôn với anh H1 là phù hợp.

Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ kiện chị H có nguyện vọng được nuôi con chung là Hoàng Phương T, sinh năm 2009 đến tuổi trưởng thành 18 tuổi. Xét thấy, nguyện vọng của chị H là hợp pháp, cháu T đang còn nhỏ và đang ở với chị H. Quá trình giải quyết vụ án anh H1 không có ý kiến gì về con chung, chị H cam kết đủ điều kiện nuôi dưỡng các con. Hội đồng xét xử nhận thấy nên giao con chung là cháu T cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy chị H không yêu cầu anh Hiếu phải cấp đưỡng nuôi con chung nên anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, nếu sau này giữa chị H và anh H1 có phát sinh tranh chấp về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con mà không tự thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.

.Về tài sản chung và nợ: Chị H xác định chị tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết. Đây là quyền định đoạt của các đương sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và không đặt ra giải quyết trong vụ án này về phần chia tài sản và phần nợ. Tuy nhiên, nếu sau này giữa chị H và anh H1 có phát sinh tranh chấp về chia tài sản và nợ mà không tự thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.

Về án phí hôn nhân và gia đình: - Anh H1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

- Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoaûn 1 Ñieàu 28; ñieåm a khoaûn 1 Ñieàu 35; khoản 4 Điều 147, Ñieàu 203 và điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luaät Hoân nhaân & Gia đình; Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Hoàng Quang H1.

- Về nuôi con chung: Giao cho chị Lê Thị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung là cháu Hoàng Phương T, sinh năm 2009 cho đến khi đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hoàng Quang H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Hoàng Quang H1 được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở quyền này.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

- Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện S theo biên lai thu số 0010488 ngày 17/5/2023.

- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ