- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà T kiện đòi tài sản bà L"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 162 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18 /2023/DS-ST Ngày 09 tháng 8 năm 2023 “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thủy
Ông Nguyễn Ngọc Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa: Bà: Trần Lại Khánh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 47/2023/TLST-DS ngày 13/3/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST-DS ngày 27/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2023/QĐST-DS ngày 21/7/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1958
Nơi cư trú: Khu I, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1959
Nơi cư trú: Khu T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ
(Bà T có mặt, bà L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày yêu cầu khởi kiện:
Do có mối quan hệ là bạn bè chơi với nhau từ lâu nên ngày 05/10/2017 bà có cho bà L vay số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), mục đích vay để xử lý công việc gia đình, thời hạn vay là 01 tháng, khi vay không tính lãi suất. Khi vay bà L có viết và ký giấy vay tiền. Đồng thời bà L có gửi bà 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Bùi Thị L làm tin.
Đến ngày 10/10/2017 bà L lại hỏi vay bà thêm 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để thanh toán tiền viện phí cho con dâu. Khi vay bà L có viết và ký giấy vay tiền. Nội dung giấy vay tiền, thì ngoài số tiền 5.000.000 đồng vay của bà, bà L còn vay của anh Dương Ngọc H – là chồng bà số tiền 1.000.000 đồng nhưng chồng bà không đề nghị Tòa án giải quyết. Như vậy, bà L vay của bà tổng cộng là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Đã quá hạn và bà đã đòi rất nhiều lần nhưng bà L không trả. Nay bà khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà L phải trả cho bà 20.000.000 đồng tiền nợ gốc và bà không đề nghị tính lãi.
Bị đơn không đến Tòa án làm việc nên không có quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa ngày 09/8/2023: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình, bị đơn bà Bùi Thị L được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Trong thời gian chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán và các Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Bùi Thị L phải trả cho bà Nguyễn Thanh T số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) và không phải trả lãi do bà T không yêu cầu. Bà Bùi Thị L phải chịu chi phí giám định chữ viết, chữ ký và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thời hiệu khởi kiện và quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào 02 giấy vay tiền do nguyên đơn giao nộp đề ngày 05/10/2017 và ngày 10/10/2017, đương sự không có đề nghị áp dụng thời hiệu nên Hội đồng xét xử xác định thời hiệu khởi kiện vẫn còn vì vậy nguyên đơn có quyền khởi kiện đòi số tiền còn nợ và xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng:
Bị đơn là bà Bùi Thị L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Quá trình giải quyết vụ án, cán bộ Tòa án đã nhiều lần đến nhà bà Bùi Thị L để tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án tuy nhiên đều không gặp được bà L. Tòa án đã làm biên bản xác minh tại địa phương thì được cung cấp: “bà Bùi Thị L có đăng ký thường trú tại khu T, thị trấn L, huyện L tuy nhiên bà L thường xuyên vắng mặt tại địa phương nhưng thỉnh thoảng vẫn về nhà”. Ngoài ra, hàng tháng bà L vẫn trực tiếp đến đóng tiền lãi cho ông tổ trưởng tổ vay vốn khu T, thị trấn L của khoản vay ở ngân hàng C huyện L. Vì vậy Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, bà L được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc vì vậy Thẩm phán chỉ tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải được. Bà L được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vắng mặt không có lý do, căn cứ vào quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo quy định pháp luật.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về yêu cầu khởi kiện đòi 20.000.000 đồng theo nội dung 02 giấy vay tiền ngày 05/10/2017 và ngày 10/10/2017, Hội đồng xét xử xét thấy:
Nội dung giấy vay tiền đề ngày 05/10/2017 thể hiện nội dung bà Bùi Thị L có vay của bà Nguyễn Thanh T số tiền 15.000.000 đồng và thời hạn vay là 01 tháng, nội dung giấy vay tiền đề ngày 10/10/2017 thể hiện nội dung bà Bùi Thị L có vay của bà Nguyễn Thanh T số tiền 5.000.000 đồng và thời hạn vay là 01 tháng.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Bùi Thị L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai của bà Bùi Thị L vì vậy Thẩm phán đã tiến hành giám định các chữ ký trong giấy vay tiền với chữ viết của bà Bùi Thị L trong Phiếu thu nhận thông tin căn cước công dân và trong biên bản cấp, tống đạt văn bản tố tụng. Kết luận giám định số 772/KL- KTHS ngày 07/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh P thể hiện:
“Chữ ký, chữ viết mang tên Bùi Thị L trên 02 “Giấy vay tiền” so với chữ ký, chữ viết mang tên Bùi Thị L dưới mục “Người được tống đạt; Người khai ghi rõ họ tên” trên “Biên bản cấp, tống đạt văn bản tố tụng; Phiếu thu nhận thông tin căn cước công dân” là do cùng một người ký và viết ra”.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện đòi số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng và không đề nghị tính lãi của nguyên đơn là có căn cứ cần chấp nhận.
Về chi phí giám định: quá trình giải quyết bà Nguyễn Thanh T đã tạm ứng chi phí giám định là 3.000.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện của bà T được chấp nhận nên cần buộc bà Bùi Thị L phải chịu chi phí giám định là 3.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 161; khoản 1 Điều 162; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của nguyên đơn.
[2] Buộc bà Bùi Thị L phải trả bà Nguyễn Thanh T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn thì hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. [3] Án phí:
Bà Bùi Thị L phải chịu 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về chi phí giám định: bà Bùi Thị L phải trả cho bà Nguyễn Thanh T số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lâm Thao; - Chi cục THADS huyện Lâm Thao; - Các đương sự; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Phương Thúy |