- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hđ tín dụng"
- Tòa quyết gì? Về yêu cầu của nguyên đơn: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C, buộc bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L và bà Phan Thị H phải liên đới trả cho Ngân hàng C xã hội thông qua Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội thị xã C, tỉnh Gia Lai số tiền còn nợ …
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/DS-ST Ngày: 11/5/2023 “V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan;
2. Ông Bùi Sỹ Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 120/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-DS ngày 13/4/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng C; địa chỉ: A phố L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Thủy T - Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội thị xã C; địa chỉ P: Tổ A, phường A, T, tỉnh Gia Lai (Quyết định số 4716/QĐ-NHCS ngày 25/11/2016 của Tổng Giám đốc Ngân hàng C về việc ủy quyền tham gia tố tụng); có mặt.
- Bị đơn:
1. Bà Phan Thị H, sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm C, thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Thủy T trình bày: Ngân hàng C đã cho vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L và bà Phan Thị H vay tiền hai lần, cụ thể:
Lần thứ nhất, vào ngày 25/8/2016, vay theo chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, số tiền vay 12.000.000đ; mục đích vay là làm giếng nước và nhà vệ sinh; thời hạn vay 60 tháng; lãi suất vay 0,75%/tháng; lãi suất quá hạn bằng 130% lãi trong hạn. Thời gian trả nợ được chia thành 10 kỳ, 6 tháng trả 1 lần bắt đầu vào ngày 25/02/2017 với số tiền gốc phải trả là 1.200.000đ/lần, hạn cuối trả nợ là ngày 25/8/2021. Ngày 24/8/2021 được gia hạn trả nợ gốc đến ngày 25/8/2023. Ông L và bà H trả lãi đến ngày 17/01/2021 nhưng chưa trả nợ gốc theo phân kỳ trả nợ.
Lần thứ hai, vào ngày 21/3/2018, vay theo chương trình cho vay hộ cận nghèo từ nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Ngân hàng với số tiền vay 30.000.000đ; mục đích sử dụng tiền vay là mua bò chăn nuôi sinh sản; thời hạn vay 60 tháng; lãi suất cho vay 7,920%/năm; lãi suất quá hạn bằng 130% lãi trong hạn. Thỏa thuận phân kỳ trả gốc là 05 kỳ, mỗi kỳ 12 tháng trả 6.000.000đ bắt đầu từ ngày 25/8/2021, hạn trả nợ cuối cùng là ngày 25/11/2025. Ông L và bà H trả lãi đến ngày 26/5/2021 nhưng chưa trả tiền gốc theo phân kỳ trả nợ.
Theo đơn khởi kiện Ngân hàng C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L và bà H phải trả cho Ngân hàng tiền nợ gốc của hai khoản vay là 42.000.000đ và nợ lãi bao gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn. Nay Ngân hàng thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu trả tiền gốc và lãi trong hạn theo hợp đồng của từng khoản vay tính đến thời điểm xét xử.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án ông L và bà H đều trình bày: Trước đây ông L và bà H là vợ chồng, đến năm 2022 thì ly hôn theo bản án số 20/2022/HNGĐ-ST ngày 15/6/2022 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai. Ông L và bà H thừa nhận vào năm 2016 có vay theo chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, số tiền vay 12.000.000đ và vào năm 2018 có vay theo chương trình cho vay hộ cận nghèo với số tiền vay 30.000.000đ. Tổng số tiền vay 42.000.000đ và tiền lãi như Ngân hàng khởi kiện, đến nay ông L và bà H vẫn chưa trả cho Ngân hàng tiền gốc theo phân kỳ trả nợ như thỏa thuận. Vì điều kiện kinh tế khó khăn, vợ chồng đã ly hôn, ông L và bà H đồng ý đối với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, nhưng xin kéo dài thời gian trả nợ.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ của hai hợp đồng tín dụng là 42.000.000đ và tiền lãi trong hạn theo hợp đồng tính đến ngày xét xử. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn Ngân hàng C yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Ngọc L và bà Phan Thị H, địa chỉ vào thời điểm ký hợp đồng vay tại thôn T, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai phải trả tiền còn nợ từ hợp đồng tín dụng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc L và bà Phan Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn ông L, bà H.
Theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay, sổ vay vốn, sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ, giấy ủy quyền đại diện vay vốn, có căn cứ xác định giữa Ngân hàng C và ông L, bà H đã xác lập giao dịch vay tài sản, là hợp đồng tín dụng. Việc xác lập hợp đồng tín dụng được thực hiện đúng theo trình tự pháp luật về tín dụng ngân hàng nên hợp pháp và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng.
Về nghĩa vụ trả nợ: Tại các giấy đề nghị vay vốn chỉ ghi họ tên người vay là ông Nguyễn Ngọc L, tuy nhiên giấy ủy quyền lập ngày 20/10/2017 thể hiện anh L là người đại diện theo ủy quyền của hộ gia đình, thực hiện đứng tên người vay và thực hiện các giao dịch với Ngân hàng C. Mặc khác ông L và bà H là vợ chồng, do vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình, ông L và bà H phải có nghĩa vụ liên đới trong việc thực hiện các nghĩa vụ với Ngân hàng liên quan đến các hợp đồng tín dụng mà các bên đã xác lập.
Về số tiền gốc còn nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền gốc còn nợ là 42.000.000đ cho hai khoản vay.
Theo sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ của mã món vay 6600000708254409, vay theo chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, thì ông L đã nhận số tiền vay 12.000.000đ ngày 25/8/2016, thỏa thuận định kỳ trả gốc 06 tháng, mỗi kỳ trả 1.200.000đ, hạn trả nợ cuối cùng là ngày 25/8/2021, ngày 24/8/2021 ông L, bà H được gia hạn trả nợ gốc đến ngày 25/8/2023. Ông L và bà H chưa trả nợ gốc nên số tiền gốc còn nợ là 12.000.000đ.
Theo sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ của mã món vay 6600000719227618, vay theo chương trình hộ cận nghèo, thì ông L đã nhận số tiền vay 30.000.000đ ngày 25/11/2020, thỏa thuận phân kỳ trả gốc là 05 kỳ, mỗi kỳ 12 tháng trả 6.000.000đ bắt đầu từ ngày 25/8/2021, hạn trả nợ cuối cùng là ngày 25/11/2025. Ông L và bà H chưa trả gốc theo phân kỳ nên số tiền gốc còn nợ là 30.000.000đ.
Tổng cộng tiền nợ gốc của hai khoản vay là 42.000.000đ.
Bị đơn đã không thực hiện đúng cam kết về trả nợ gốc theo phân kỳ trả gốc và trả lãi theo thỏa thuận, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả nợ trước hạn là có căn cứ phù hợp theo quy định tại Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc còn nợ của hai hợp đồng là 42.000.000đ.
Về lãi suất và tiền lãi còn nợ: Theo giấy đề nghị vay vốn, sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ, các bên có thỏa thuận việc trả lãi và mức lãi suất nên bên vay phải trả lãi như đã thỏa thuận là phù hợp theo quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng.
Đối với mã món vay 66600000708254409, vì chưa hết thời hạn vay nên lãi suất áp dụng là lãi trong hạn theo thỏa thuận của các bên là 0,75%/tháng. Tiền lãi được tính từ ngày tiếp theo của ngày trả lãi cuối cùng của bị đơn là ngày 18/01/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là 845 ngày, do vậy tiền lãi bị đơn phải trả là (12.000.000đ x 0,75%/tháng)/30 ngày x 845 ngày = 2.505.000đ.
Đối với mã món vay 6600000719227618, vì chưa hết thời hạn vay nên lãi suất áp dụng là lãi trong hạn theo thỏa thuận của các bên là 7,920%/năm tức 0,66%/tháng. Tiền lãi được tính từ ngày tiếp theo của ngày trả lãi cuối cùng của bị đơn là ngày 27/5/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là 715 ngày, do vậy tiền lãi bị đơn phải trả là (30.000.000đ x 0.66%/tháng)/30 ngày x 715 ngày = 4.654.000đ.
Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Ngọc L và bà Phan Thị H phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận là (12.000.000đ + 2.505.000đ + 30.000.000đ + 4.654.000đ) x 5% = 2.457.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
1. Về yêu cầu của nguyên đơn: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C, buộc bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L và bà Phan Thị H phải liên đới trả cho Ngân hàng C xã hội thông qua Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội thị xã C, tỉnh Gia Lai số tiền còn nợ từ hợp đồng tín dụng theo hai khoản vay gồm:
Đối với mã món vay 6600000708254409, vay theo chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, phải trả số tiền là 14.505.000đ (mười bốn triệu, năm trăm lẻ năm nghìn đồng). Trong đó tiền gốc là 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) và tiền lãi là 2.505.000đ (Hai triệu năm trăm lẻ năm nghìn đồng).
Đối với mã món vay 6600000719227618, vay theo chương trình hộ cận nghèo, phải trả số tiền là 34.654.000đ (ba mươi bốn triệu, sáu trăm năm mươi bốn nghìn đồng). Trong đó tiền gốc là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) và tiền lãi là 4.654.000đ (bốn triệu, sáu trăm năm mươi bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Ngọc L và bà Phan Thị H phải liên đới trả khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các hợp đồng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ gốc.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng C thì lãi suất mà ông L, bà H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định này cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc L và bà Phan Thị H phải phải liên đới nộp 2.457.000đ (hai triệu, bốn trăm năm mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn Ngân hàng C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 11/5/2023. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã A; - Chi cục THADS TX An Khê; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Bích Thảo |