vanban.org

Bản án 18/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 26/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Đào Văn V 01 ( một) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HSST
Ngày 26/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Ba

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Hồng

2/ Ông Trần Lâm

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tiến hành công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 123/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo.

Đào Văn V - Sinh ngày 31/10/1995; tại thành phố Đà Nẵng - Nơi cư trú: Số 30 Đặng Đình V, tổ 47, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng - Nghề nghiệp: Lao động phổ thông - Trình độ học vấn: 10/12 - Dân tộc: Kinh - Giới tính: Nam - Tôn giáo: Không - Quốc tịch: Việt Nam - Con ông Đào Văn B và bà Hồ Thị B (đã mất).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giam từ ngày 06/8/2021 đến nay, tại nhà tạm giữ Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đào Thị Phương T – Sinh năm: 1993 – Nơi cư trú: Tổ 47, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.

Người làm chứng:

1/ Phan Đình P – Sinh năm:1993 – Địa chỉ: K814/60 Trần Cao V, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.

2/ Ông Lê Bảo P – Sinh năm: 1999 – Địa chỉ: Tổ 44 phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 06/8/2021 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đào Văn V liên lạc qua mesenger với một thanh niên tên Quang (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) để mua một gói ma túy với giá 300.000đ, V điều khiển xe mô tô Vision biển số 43C1-105.41 đến khu vực K814/H83 Trần Cao Vân, phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để nhận ma túy, trên đường về đến trước số nhà K814/62 Trần Cao Vân Đà Nẵng thì bị Công an phường Thanh Khê Đông phát hiện, bắt quả tang V đang tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ của Vũ gồm:

1/ 01 gói ny lông kích thước (1,5 x 2,5)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng niêm phong ký hiệu là G.

2/ 01 điện thoại di động có chữ Redmi màu xanh số IMEI 1 866689042969785, số IMEI 2 866689043389785 gắn sim số 0905 892321.

3/ 01 xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 43C1-10541 số khung RLHJF3305CY002820 số máyJF33E002918.

Theo Kết luận giám định số 213/GĐ-MT ngày 12/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận tinh thể màu trắng trong 01 gói ny lông trong bì niêm phong ký hiệu G là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,241 gam.

Trong quá trình điều tra bị cáo Đào Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên. Việc khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xử lý vật chứng:

Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã trả lại: 01 xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 43C1-10541 số khung RLHJF3305CY002820 số máyJF33E002918 cho bà Đào Thị Phương Thảo.

Tại phiên tòa bị cáo V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản Cáo trạng số 128/CT – VKS ngày 10/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hiện quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đề nghị HĐXX

Tuyên bố bị cáo Đào Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 43C1-10541 số khung RLHJF3305CY002820 số máyJF33E002918 của bà Đào Thị Phương T, bà T cho V mượn, nhưng không biết V sử dụng xe đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng đã trả xe lại cho bà Đào Thị Phương T là có căn cứ.

Tịch thu tiêu hủy: 0,241 gam ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong ký hiệu là G.

Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động có chữ Redmi màu xanh ngọc số IMEI 1 866689042969785, số IMEI 2 866689043389785 gắn sim số 0905 892321.

Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2021.

Đối với người thanh niên tên Quang có hành vi bán ma túy cho Vũ, hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của bị cáo, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng , người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Qua quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Đào Văn V khai nhận vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 06/08/2021, tại trước số nhà K814/62 đường Trần Cao Vân, phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Đào Văn V có hành vi tàng trữ 0,241 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát hiện bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với quan điểm luận tội của Viện Kiểm sát và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình tranh luận tại phiên tòa. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận Bị cáo Đào Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, biết được ma túy có tạc hại rất lớn làm suy đồi đạo đức nhân cách, làm giảm sút tinh thần và sức khỏe của con người, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm. Và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến quyền quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, mà còn ảnh hưởng xấu đến đến tình hình trật tự, trị an xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, nên cần phải xử lý tương xứng với hành vi của bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo V đã thành khẩn khai báo, biết ăn hối cải, nên HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự..

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thống nhất với đại diện Viện kiểm sát cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội môt thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Đào Thị Phương T đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đề cập.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần tài sản hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, HĐXX xét thấy bị cáo V hiện việc làm không ổn định, thu nhập thấp, bản thân bị cáo không có tài sản nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; vật chứng được xử lý như sau:

Tịch thu tiêu hủy: 0,241 gam ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong ký hiệu là G.

Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động có chữ Redmi màu xanh ngọc số IMEI 1 866689042969785, số IMEI 2 866689043389785 gắn sim số 0905 892321.

Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2021.

Đối với xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 43C1-10541 số khung RLHJF3305CY002820 số máyJF33E002918 của bà Đào Thị Phương T, bà T cho V mượn, nhưng không biết V sử dụng xe đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng đã trả xe lại cho bà Đào Thị Phương T là có căn cứ.

Đối với người thanh niên tên Quang có hành vi bán ma túy cho V, hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau là có cơ sở.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đào Văn V phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đào Văn V 01 ( một) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylông bên trong có chưa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong ký hiệu G là mẫu vật ma túy được hoàn lại sau giám định.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động có chữ Redmi màu xanh số IMEI 1 866689042969785, số IMEI 2 866689043389785 gắn sim số 0905 892321.

Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2021.

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Án phí HSST bị cáo Đào Văn V phải chịu là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Án xử công khai, bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ