vanban.org

Bản án 18/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn M R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn M R 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c kho n 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c kho n 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Rỡ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn M R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
B n án số: 18/2022/HS-ST
Ngày 19-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Ông Tô Văn Nhung.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Tố Mai, Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 398/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 16/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn M R, sinh năm 1993 tại tỉnh Bạc Liêu; thƣờng trú: Ấp M , xã HP, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; tạm trú: Số 8/1, khu phố 1A, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 8/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn M R, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1968; bị cáo có 01 chị ruột, sinh năm 1988; tiền án: không có;

Tiền sự: Ngày 31/5/2016, Công an phƣờng A, thị xã T “nay là thành phố T”, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc, theo quyết định số 281, bị cáo chƣa nộp tiền phạt.

Bị cáo bị b t tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2021; có yêu cầu gi i quyết v ng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1985; thƣờng trú: Số 23/A10 khu phố 3, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, (v ng mặt);

2/ Ông Lê Thanh V, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn H, xã K1, huyện A, tỉnh Hà Tĩnh, (v ng mặt);

- Người làm chứng: Ông Trần Đức L, (v ng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm t t nhƣ sau:

Kho ng 10 giờ ngày 29/8/2021, Nguyễn Ngọc T đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38H4 – 7730 chở Nguyễn M Rđến tại chốt kiểm soát phòng dịch bệnh Covid -19 tại đoạn giao với đƣờng Mỹ Phƣớc – T n Vạn và đƣờng Trần Quang Diệu, thì bị Công an phƣờng B kiểm tra hành chính phát hiện túi quần bên ph i của R có 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ hàn kín hai đầu, chứa tinh thể màu tr ng, trong vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, R khai nhận là ma túy nên Công an tiến hành lập biên b n b t ngƣời có hành vi phạm tội qu tang cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ: 01đoạn ống hút nhựa màu đỏ, hàn kín hai đầu, chứa tinh thể màu tr ng, trong 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu DAEHAN, biển số 38H4 – 7730.

Quá trình điều tra R khai nhận do có nhu cầu sử dụng ma túy nên kho ng 08 giờ ngày 29/8/2021, R gọi điện thoại cho tên M (chƣa rõ nh n th n, lai lịch) hỏi mua 120.000 đồng ma túy đá và c hai hẹn giao ma túy tại đƣờng Mỹ Phƣớc – T n Vạn đoạn khu phố T, phƣờng B, thành phố Dĩ An gần nơi R ở. Sau đó, R đi bộ ra và gặp M mua 120.000 đồng ma túy đựng trong 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ hàn kín hai đầu. Sau khi mua ma túy, R cất vào trong vỏ bao thuốc lá hiệu Jet để trong túi quần bên ph i rồi đi bộ về nhà. Trên đƣờng đi bộ về nhà, R gặp anh Nguyễn Ngọc T nên R nhờ anh Tho ng chở đến khu vực ngã ba dốc Ông Thập để mƣợn xe mô tô đi công việc. Khi c hai đi đến chốt kiểm soát phòng dịch bệnh Covid -19 tại đoạn giao với đƣờng Mỹ Phƣớc – T n Vạn và đƣờng Trần Quang Diệu, thì bị Công an phƣờng B kiểm tra hành chính phát hiện b t giữ.

Căn cứ Kết luận giám định số 584/MT-PC09 ngày 06/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu tinh thể màu tr ng gửi giám định là ma túy, có khối lƣợng 0,1402 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì Kết luận giám định số: 584/MT-PC09 ngày 06/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng.

Đối với ngƣời đàn ông tên M bán ma túy cho Nguyễn M R tại đƣờng Mỹ Phƣớc – T n Vạn đoạn khu phố T, phƣờng B, thành phố Dĩ An, hiện chƣa xác định đƣợc nh n th n, lai lịch nên Cơ quan c nh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục xác M, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau và đối với Nguyễn Ngọc T không biết R tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đề cập xử lý, tuy nhiên Tho ng là đối tƣợng sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan c nh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Tho ng với số tiền 750.000 đồng theo quy định tại kho n 01 Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, thông báo về địa phƣơng để qu n lý, giáo dục.

Tại cáo trạng số 14/CT – VKS ngày 16 tháng 12 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn M R về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c kho n 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nh n d n thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c kho n 1 Điều 249; điểm s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn M R mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với Ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định đã đƣợc niêm phong trong phong bì số 584/PC09, khối lƣợng 0,1000 gam là vật cấm lƣu thông nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet là vật không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu DAEHAN, biển số 38H4 – 7730, số khung 039931, số máy 0061431, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là ông Lê Thanh Viện, sinh năm 1980; thƣờng trú: thôn H, xã K1, huyện A, tỉnh Hà Tĩnh. Kho ng tháng 5/2018 ông Lê Thanh V đã bán xe cho ông Nguyễn Ngọc T với giá 2.000.000 đồng nhƣng chƣa làm thủ tục sang tên. Việc Nguyễn Ngọc T sử dụng xe mô tô trên để chở Nguyễn M R đi nhƣng không biết R tàng trữ ma túy nên Cơ quan C nh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đã tr lại xe cho T nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Quá trình tố tụng bị cáo có đơn xin v ng mặt và xin gi m nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa bị cáo v ng mặt nên không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và xử lý vật chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngƣời làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Kho ng 10 giờ ngày 29/8/2021, tại chốt kiểm soát phòng dịch bệnh Covid -19 đoạn giao với đƣờng Mỹ Phƣớc – T n Vạn và đƣờng Trần Quang Diệu, Công an phƣờng B kiểm tra hành chính phát hiện Nguyễn M R tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lƣợng 0,1402 gam, loại Methamphetamine.

Nhƣ vậy, hành vi trên đ y của bị cáo Nguyễn M R tàng trữ ma túy có khối lƣợng 0,1402 gam, loại Methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c kho n 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 14/CT-VKS ngày 16 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nh n d n thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn M R về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c kho n 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp x m phạm đến sự qu n lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, g y mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng gi m nhẹ trách nhiệm hình sự, nh n th n của bị cáo, đủ để c i tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo R không có.

Tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối c i, đ y là những tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về nh n th n: Bị cáo R có nh n th n xấu thể hiện việc có tiền sự, lần phạm tội này của bị cáo thể hiện sự không hƣớng thiện của b n th n cũng nhƣ việc chấp hành pháp luật, đồng thời bị cáo là ngƣời nghiện ma túy nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã x m phạm vào sự qu n lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma tuý đồng thời bị cáo là ngƣời nghiện ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo nh hƣởng tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, c i tạo bị cáo thành công d n có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại kho n 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đ m nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài s n”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [9] Xử lý vật chứng:

- Xét Ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định đã đƣợc niêm phong trong phong bì số 584/PC09, khối lƣợng 0,1000 gam là vật cấm lƣu thông nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu DAEHAN, biển số 38H4 – 7730, số khung 039931, số máy 0061431, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là ông Lê Thanh V, sinh năm 1980; thƣờng trú: thôn H, xã K1, huyện A, tỉnh Hà Tĩnh. Kho ng tháng 5/2018 ông Lê Thanh V đã bán xe cho ông Nguyễn Ngọc T với giá 2.000.000 đồng nhƣng chƣa làm thủ tục sang tên. Việc Nguyễn Ngọc T sử dụng xe mô tô trên để chở Nguyễn M R đi nhƣng không biết R tàng trữ ma túy nên Cơ quan C nh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đã tr lại xe cho Tho ng nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Đối với ngƣời đàn ông tên M bán ma túy cho Nguyễn M R tại đƣờng Mỹ Phƣớc – T n Vạn đoạn khu phố T, phƣờng B, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, hiện chƣa xác định đƣợc nh n th n, lai lịch nên Cơ quan c nh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục xác M, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau và đối với Nguyễn Ngọc T không biết R tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đề cập xử lý, tuy nhiên T là đối tƣợng sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan c nh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với T với số tiền 750.000 đồng theo quy định tại kho n 01 Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, thông báo về địa phƣơng để qu n lý, giáo dục, là đúng theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự, nh n th n của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo ph i nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại kho n 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a kho n 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn M R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c kho n 1 Điều 249; điểm s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn M R 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c kho n 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c kho n 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet và 01 (một) phong bì đã đƣợc niêm phong ghi số 584/PC09 trong chứa ma túy, có khối lƣợng sau giám định 0,1000 gam, loại Methamphetamine.

(Theo biên b n giao nhận vật chứng, tài s n ngày 17/12/2021 giữa Cơ quan c nh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án d n sự thành phố Dĩ An).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng kho n 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a kho n 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn M R ph i nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án v ng mặt đƣợc quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc b n án hoặc b n án tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ