vanban.org

Bản án 18/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 12/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo: Đậu Quyền Quý, sinh ngày 15/10/1994 tại: xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn Đông Cảng, xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12;

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt..........(...................................) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 08/6/2020). Về tội “Tàng trử trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Đậu Quyền Quý, sinh ngày 15/10/1994 tại: xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn Đông Cảng, xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HS-ST
Ngày 12 - 5 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Chương và Ông Võ Xuân Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:

Cao Văn T, giới tính: Nam, sinh ngày 02 tháng 5 năm 1996 tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn M, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; trình độ học vấn: lớp 06/12; ghề nghiệp: đánh cá; con ông Cao Văn T1 sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; vợ: Phạm Thị D, sinh năm 1999; con: 02 đứa, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình từ ngày 02/12/2021 đến ngày 01/3/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1974; nơi cư trú: thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; nơi cư trú: thôn M, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 22 giờ ngày 01/12/2021, Cao Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73K1 - 050.43 đi từ nhà ở của mình đến trước cổng nhà của Đoàn Thị H, sinh năm 1974 trú tại thôn V, xã Q, thị xã B để mua ma túy. Khi đến, T gọi H ra gặp rồi mua 03 viên ma túy tổng hợp, dạng Hồng phiến được đựng trong hai đoạn ống nhựa màu xanh với giá 260.000 đồng. Tới cất giấu số ma túy vừa mua được vào trong túi quần phía trước, bên trái đang mặc trên người, rồi điều khiển xe mô tô rời khỏi nhà H, khi đi được khoảng 500m đến đoạn đường liên xã thuộc thôn V, xã Q, thị xã B thì bị Công an thị xã Ba Đồn phối hợp với Công an xã Quảng Hòa, thị xã Ba Đồn kiểm tra hành chính, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các tang vật liên quan.

Quá trình bắt quả tang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã thu giữ trong túi quần phía trước, bên trái của Cao Văn T 02 đoạn ống nhựa màu xanh, bên trong chứa 03 viên nén màu hồng, dạng thuốc tân dược; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen, BKS 73K1 - 050.43, số máy JF46E6096407, số khung 4615EZ171050 đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, xác định xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị H (mẹ của Tới), không liên quan đến tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 09 ngày 25/02/2022, trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà H.

Ngày 02/12/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 176/CSĐT để trưng cầu giám định 01 bì thư đã được niêm phong chứa 03 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược, đựng trong 02 ống nhựa màu xanh (mẫu ký hiệu A).

Tại bản Kết luận giám định số 1407/GĐ-PC09 ngày 08/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: mẫu ký hiệu A gồm có 03 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY” là “Chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,308g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số tứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.

Liên quan trong vụ án này có Đoàn Thị H đã bán ma túy cho bị cáo Cao Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can bằng một vụ án khác. Bà Nguyễn Thị H cho bị cáo mượn tài sản thuộc quyền sở hữu là xe mô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 73K1 - 050.43, quá trình điều tra và tại phiên tòa không có căn cứ xác định bà H biết bị cáo mượn xe mô tô để đi mua ma túy nên không có căn cứ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 18/CT - VKSBĐ ngày 16 tháng 3 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố bị cáo Cao Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung Bản cáo trạng, đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bị cáo Cao Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thủ thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/5/2022.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên tịch thu tiêu hủy 02 đoạn ống nhựa màu xanh và số ma túy còn lại sau khi giám định.

Tuyên bị cáo phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và nhất trí với toàn bộ nội dung Bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố đối với bị cáo, không tranh luận gì.

- Trong lời nói sau cùng, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, hứa sẽ không phạm tội nữa; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thự hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận, là người có nhu cầu sử dụng ma túy, nên vào ngày 01 tháng 12 năm 2021, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73K1 - 050.43 đi từ nhà ở của mình đến trước cổng nhà của Đoàn Thị H, sinh năm 1974 trú tại thôn V, xã Q, thị xã B để mua ma túy và mua được từ Đoàn Thị H 03 viên ma túy tổng hợp, dạng hồng phiến đựng trong hai đoạn ống nhựa màu xanh với giá 260.000 đồng. Bị cáo cất giấu số ma túy vừa mua được vào trong túi quần phía trước, bên trái đang mặc trên người, rồi điều khiển xe mô tô rời khỏi nhà H, khi đi được khoảng 500m đến đoạn đường liên xã thuộc thôn V, xã Q, thị xã B thì bị Công an thị xã Ba Đồn phối hợp với Công an xã Quảng Hòa, thị xã Ba Đồn kiểm tra hành chính, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm và hiện trường nơi xảy ra vụ án; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án và được tranh tụng tại phiên tòa; đúng như tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để khẳng định hành vi của bị cáo Cao Văn T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thấy: Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Ngoài ra còn trực tiếp đe doạ nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển của bản thân, gây thiệt hại về kinh tế cho gia đình, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được hành vi sai trái của mình, thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có công cứu người trong mùa mưa lũ được chính quyền địa phương xác nhận, thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rỏ ràng và nghề nghiệp cụ thể. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe; như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ, hành nghề gì, nghề nghiệp đánh cá, thu nhập không ổn định, không có khả năng thi hành án; cần chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa để miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý đồ vật, vật chứng:

Xét 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen, BKS 73K1 - 050.43, số máy JF46E6096407, số khung 4615EZ171050 đã qua sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa xác định xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị H, không liên quan đến tội phạm. Việc Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại tài sản cho bà H là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật; tại phiên tòa không ai có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 phong bì thư của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, số 1407/GĐ-PC09, bên ngoài ghi “mẫu ký hiệu A”, bên trong chứa 0,174 gam chất ma túy Methaphetamine còn lại sau giám định kèm theo 02 ống nhựa màu xanh đã được niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu của Phòng kỷ thuật hình sự, Công an tỉnh Quảng Bình được thu giữ trong vụ án là chất cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 260.000 đồng bị cáo dùng mua ma túy từ Đoàn Thị H, số tiền này đang bị thu giữ trong vụ án Đoàn Thị H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, đã bị điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử. Xác định đây là tiền Đoàn Thị H do phạm tội mà có, sẽ được xử lý trong vụ án Đoàn Thị H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết tại vụ án này.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị H đã nhận lại tài sản xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen, BKS 73K1 - 050.43, số máy JF46E6096407, số khung 4615EZ171050, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Những hành vi có liên quan: Liên quan trong vụ án có Đoàn Thị H đã bán ma túy cho bị cáo Cao Văn T; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can bằng một vụ án khác. Bà Nguyễn Thị H cho bị cáo mượn tài sản thuộc quyền sở hữu là xe mô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 73K1 - 050.43, quá trình điều tra và tại phiên tòa không có căn cứ xác định bà H biết bị cáo mượn xe mô tô để đi mua ma túy nên không có căn cứ xử lý, tuy nhiên cần nhắc nhở để rút kinh nghiệm.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án”; buộc bị cáo Cao Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

Các điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; các khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án”.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cao Văn T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/5/2022).

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Cao Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Minh, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Cao Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Cao Văn T.

4. Về xử lý vật chứng: Xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, số 1407/GĐ-PC09, bên ngoài ghi “mẫu ký hiệu A”, bên trong chứa 0,174 gam chất ma túy Methaphetamine còn lại sau giám định kèm theo 02 ống nhựa màu xanh (Các vật chứng có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Ba Đồn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn vào ngày 30/3/2022).

5. Về án phí: Xử buộc bị cáo Cao Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/5/2022. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Bình;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Quảng Bình;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;

- VKSND thị xã Ba Đồn;

- Công an thị xã Ba Đồn;

(Đã ký)

- Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;

- Bị cáo;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

Phan Anh Đức quan;

- Lưu hồ sơ vụ án; THA hình sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Xuân Hòa Phan Thanh Bảo

Phan Anh Đức

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Xuân Hòa Phan Thanh Bảo

Phan Anh Đức

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Xuân Hòa Phan Thanh Bảo

Phan Anh Đức TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ BA ĐỒN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH QUẢNG BÌNH

Ba Đồn, ngày....... tháng.......năm 2020

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi.........giờ.........phút, ngày........tháng.........năm 2020, Tại phòng

nghị án Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông...............................................................

- Các Hội thẩm nhân dân:........................................................................... ................................................................................................................................. ....

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số............../2020/HSST ngày ...../........./2020, đối với bị cáo Đậu Quyền Quý.

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về tội danh: bị cáo Đậu Quyền Quý phạm tội “Tàng trử trái phép chất ma tuý”.

Kết

quả

biểu quyết:..........................................................................................

2. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Kết

quả

biểu quyết:........................................................................................

3.Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Đậu Quyền Quý....................(...................................) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/6/2020.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Đậu Quyền Quý với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/9/2020) để đảm bảo thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

Kết

quả

biểu quyết:........................................................................................

4. Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đậu Quyền Quý.

Kết

quả

biểu quyết:........................................................................................

5. Về các vấn đề khác:

- Về xử lý vật chứng: Xử tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Fasol và 01 phong bì thư của Phòng KTHS Công an tỉnh Quảng Bình, số: 929/GĐ - PC09, bên ngoài ghi “Mẫu ký hiệu A”, bên trong chứa 0,248g (Không phẩy hai trăm bốn mươi tám gam) chất ma túy Heroine sau giám định, kèm theo vỏ bao gói, đã được niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình. (Vật chứng có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Ba Đồn và Chi cục Thi hành án thị xã Ba Đồn vào ngày 16/9/2020.

- Về án phí: Xử buộc bị cáo Đậu Quyền Quý phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Kết quả biểu quyết:.......................................................................................

Việc nghị án kết thúc vào hồi..........giờ.............phút cùng ngày.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN

THẨM PHÁN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THỊ XÃ BA ĐỒN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH QUẢNG BÌNH Số...../2020/HSST-QDTG

Ba Đồn, ngày....... tháng.......năm 2020

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Anh Đức

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông:............................................................................................................... ....

Bà:................................................................................................................. ...

Căn cứ vào các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Biên bản nghị án ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy: Cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tạm giam bị cáo: Đậu Quyền Quý, sinh ngày 15/10/1994 tại: xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn Đông Cảng, xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12;

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt..........(...................................) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 08/6/2020). Về tội “Tàng trử trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/9/2020.

2. Công an thị xã Ba Đồn có trách nhiệm thi hành quyết định này.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ