vanban.org

Bản án 18/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 21/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/7/2021. Tuyên bố bị cáo Dương Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HS-ST
Ngày 21 – 01 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Hoài Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Công Minh.

Bà Trương Ánh Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Như – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đắc Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 235/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Quốc H, sinh ngày 08/12/2001 tại huyện Trần Văn T, tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký thường trú: khóm 6B, thị trấn S, huyện Trần Văn T, tỉnh Cà Mau; nơi tạm trú: đường số 17, khóm 8, phường B, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: ngư phủ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trường S (Nguyễn Trường X) và bà Đinh Hồng M; vợ, con: chưa có; tiền sự: 01 lần. Ngày 27/3/2020, bị Chủ tịch UBND thị trấn S, huyện Trần Văn T, tỉnh Cà Mau ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn thời hạn 03 tháng kể từ ngày 01/4/2020 về hành vi sử dụng ma túy đến ngày 01/7/2020 chấp hành xong quyết định trên; tiền án: không; nhân thân: đã bị xử lý vi phạm hành chính, không có án tích; bị tạm giữ từ ngày 17/7/2021 đến ngày 25/7/2021 thì bị bắt, tạm giam cho đến nay (có mặt).

2. Họ và tên: Dương Quốc T, sinh ngày 23/4/2003 tại huyện U, tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký thường trú: ấp 5, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; nơi tạm trú: khóm 1, phường A, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: chạy xe Honda khách; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn L và bà Huỳnh Hoa P; vợ, con: chưa có; tiền sự, tiền án: không; nhân thân: chưa bị xử lý vi phạm hành chính, nhưng vào ngày 11/12/2019, bị Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 22/7/2020 và chấp hành xong phần án phí ngày 06/02/2020; bị tạm giữ từ ngày 16/7/2021 (trong trường hợp bắt quả tang) đến ngày 25/7/2021 thì bị bắt, tạm giam cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 16/7/2021, Đội Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau kết hợp với Công an phường A, thành phố Cà Mau tuần tra phát hiện Dương Quốc T đang đi trong dãy nhà trọ Huỳnh Long thuộc khóm 1, phường A, thành phố Cà Mau có biểu hiện nghi vấn bán trái phép ma túy cho người trong khu nhà trọ thì bị Lực lượng kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng thu được trên tay trái của T 01 gói giấy màu xám, bên trong có 02 viên nén màu tím và một bọc nilon màu trắng, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) nên lực lượng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tiến hành thu giữ và niêm phong kín vật chứng trên trong phong bì ký hiệu M.62/2021 có chữ ký ghi họ tên Dương Quốc T cùng lực lượng làm nhiệm vụ và người chứng kiến. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 (một) điện thoại Iphone màu đen, bể màn hình có chữ IC: 579C-E3092A và 1.700.000 đồng.

Đến 23 giờ cùng ngày, lực lượng Công an mời Nguyễn Quốc H làm việc, thu giữ của H 01 (một) điện thoại Iphone màu đen có số sim 0914358672 và đến 12 giờ ngày 17/7/2021, lực lượng mời Lê Thị Trang đến làm việc và tạm giữ 01 (một) điện thoại LG màu xanh có số sim 0823224667.

Tại Bản kết luận giám định số: 160/GĐH-PC09 ngày 22/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng được gói trong giấy màu xám, niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M.62/2021, thu giữ ngày 16/7/2021 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2405gam ma túy, loại Ketamine.

- Hai viên nén màu tím được gói trong giấy màu xám, niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M.62/2021, thu giữ ngày 16/7/2021 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,7151gam ma túy, loại MDMA.

Hoàn lại 0,1451 gam tinh thể màu trắng ký hiệu M.62/2021 sau khi trích giám định và không lưu; 0,1657 gam của hai viên nén màu tím ký hiệu M.62/2021 sau khi trích giám định và không lưu; Phong bì niêm phong ký hiệu M.62/2021 gửi giám định; Bọc nilon dùng để chứa tinh thể màu trắng ký hiệu M.62/2021; Giấy màu xám dùng để gói bọc nilon chứa tinh thể màu trắng và hai viên nén màu tím, ký hiệu M.62/2021. Tất cả được niêm phong trong phong bì hoàn mẫu số: 160/GĐH-PC09 ngày 22/7/2021.

Qua thử nước tiểu đối với T, H và Lê Thị Trang kết quả T và Trang có sử dụng ma túy, còn H không sử dụng ma túy.

Quá trình điều tra:

Dương Quốc T khai nhận: T quen biết với Nguyễn Quốc H từ đầu tháng 6/2021, thường ngày H có nhờ T chạy xe mô tô đi mua hộ thức ăn cho H và cùng H đi bán ma túy được hưởng lợi vài chục ngàn hoặc đồ ăn. Đối với Lê Thị Trang thì T đến bán ma túy 02 lần, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Vào lúc 22 giờ 34 phút đến 22 giờ 37 phút ngày 15/7/2021, H điện thoại bằng messenger cho T, kêu T chở H đi công chuyện thì T biết là chở H đi bán ma túy. Khi T chạy xe mô tô thuê của người khác đến gặp H tại khóm 8, phường B, thành phố Cà Mau thì Hào kêu T chở H đến phòng trọ số 50, dãy nhà trọ Huỳnh Long thuộc khóm 1, phường A, thành phố Cà Mau. Khi đi đến gần cửa phòng trọ, H trực tiếp gọi cửa phòng số 50 và H trực tiếp bán ma túy cho Lê Thị Trang được 900.000 đồng, còn T đứng sau lưng H. Lần này, H hứa trả cho T 100.000 đồng nhưng chưa trả.

- Lần thứ hai: Khoảng 21 giờ 25 phút ngày 16/7/2021, H tiếp tục điện thoại bằng messenger cho T kêu T đi qua chỗ H nhận ma túy mang bán cho Lê Thị Trang thì T đồng ý. Sau đó, T đi xe taxi đến phòng trọ của H tại khóm 8, phường B thành phố Cà Mau gặp H đang đứng trong hàng rào của dãy nhà trọ, H chỉ tay cho T nhặt 01 gói giấy màu xám bên trong có 02 viên thuốc lắc và 01 bọc ma túy dạng khây ở ngay hàng rào. Đồng thời, kêu T đem qua cho Trang và nhận của Trang số tiền 1.200.000 đồng, T cầm ma túy và kêu H đưa 20.000 đồng để trả tiền đi taxi. Khi T đi gần đến cửa phòng số 50 của nhà trọ Huỳnh Long thuộc khóm 1, phường A, thành phố Cà Mau đang gõ cửa gọi Trang thì bị lực lượng Công an đến khống chế kiểm tra, nên chưa kịp bán ma túy cho Trang.

Đối với Lê Thị Trang khai nhận: Giữa Trang với H quen biết nhau khoảng trước 06 tháng trước khi bị bắt tại quán Bar Gossip phường 5, thành phố Cà Mau. Lúc đó, Trang xin số điện thoại của H có số sim 0914.358672 và kết bạn Zalo với H tên là “H Đồ”, Trang nhắn tin mua ma túy của H 03 lần cụ thể:

- Lần thứ nhất: Lúc 21 giờ 30 phút ngày 14/7/2021, Trang nhắn tin bằng Zalo kêu H bán cho Trang 01 con với 02 chấm tức bán 01 viên ma túy dạng thuốc lắc giá 300.000 đồng/viên và 02 bọc ma túy dạng khây giá 600.000 đồng/01 bọc. Do không đủ tiền, nên khi H mang ma túy đến bán trực tiếp cho Trang tại phòng trọ số 50, dãy nhà trọ Huỳnh Long thì Trang chỉ mua của H 01 viên thuốc lắc và 01 bọc ma túy dạng khây sử dụng.

- Lần thứ 2: Lúc 12 giờ 32 phút ngày 15/7/2021, Trang nhắn bằng Zalo kêu H bán ma túy cho Trang 03 chấm với 01 con. H nhắn tin lại cho Trang lúc 12 giờ 36 phút đến 12 giờ 38 phút cùng ngày 15/7/2021 “ Mà 02 trước”, tức Trang hiểu 01 chấm với 01 con” như ngày hôm trước với giá như hôm trước. Lần này, H cùng với 01 người khác đến bán. Khi H đến trước cửa phòng số 50 gọi Trang, khi Trang mở cửa phòng trả cho H số tiền 900.000 đồng và nhận ma túy từ H, lúc này người cùng đi với H là Dương Quốc T đứng sau H cách Trang khoảng 1,2m đến 1,5m.

- Lần thứ 3: Lúc 17 giờ 49 phút ngày 16/7/2021, Trang nhắn tin bằng Zalo kêu H “Đem cho chế 01 ít đồ, tối nay có bạn của chế chơi”, H nhắn tin lại cho Trang là “ 02 con với 01 chấm” thì Trang đồng ý. Đồng thời, H nhắn không phải H đem ma túy sang bán mà H kêu người khác mang số ma túy này thay H đến bán cho Trang và H kêu Trang trả tiền là 1.200.000 đồng, Trang đồng ý. Lần này, Trang chưa nhận ma túy. Đến ngày 17/7/2021, Trang bị Công an mời làm việc.

Đối với Nguyễn Quốc H tại tờ tự khai ngày 17/7/2021, lời khai 17/7/2021 và lời khai ngày 19/7/2021, H thừa nhận có trực tiếp bán ma túy cho Trang và nhờ T đi giao ma túy cho Trang đúng như lời khai của Trang, T đã khai. Tuy nhiên, từ ngày 17/8/2021 trở về sau thì H thay đổi lời khai không thừa nhận bán ma túy cho Trang, không quen biết với T.

Tại Cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 23/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc H, Dương Quốc T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Vẫn giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc H, Dương Quốc T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H từ 08 năm đến 09 năm tù và áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 07 năm đến 08 năm tù; Về vật chứng, tịch thu tiêu hủy phong bì hoàn mẫu được niêm phong số: 160/GĐH-PC09 ngày 22/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau. Đối với 01 (một) điện thoại Iphone màu đen, bể màn hình có chữ IC: 579C-E3092A thu giữ của bị cáo T và 01 (một) điện thoại Iphone màu đen có số sim 0914358672 thu giữ của bị cáo H, các tài sản này dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước. Đồng thời, buộc H nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 900.000đ sung quỹ nhà nước. Đối những lần bán ma túy mà bị cáo T khai cùng bị cáo H đi bán ma túy tại khách sạn Thanh Nhàn, nhà nghỉ Khánh Duy vào khoảng tháng 06 năm 2021, bị cáo T không nhớ ngày cụ thể cũng như số lượng ma túy bán là bao nhiêu, không xác định được người mua là ai trong khi bị cáo H không thừa nhận nên không có căn cứ xử lý những lần này.

- Bị cáo Dương Quốc T trình bày lời bào chữa: Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố không oan, sai. Số ma túy bị cáo bị bắt quả tang là của bị cáo Nguyễn Quốc H đưa cho bị cáo đi giao cho Lê Thị Trang, bị cáo đã hai lần thực hiện hành vi bán ma túy cho Trang, cụ thể ngày 15/7/2021 đi cùng H bán ma túy cho Trang tại phòng số 50, nhà trọ Huỳnh Long thuộc khóm 1, phường A, thành phố Cà Mau nhưng lần này, bị cáo H trực tiếp giam ma túy và nhận tiền từ Trang đến ngày 16/7/2021, bị cáo đi giao ma túy cho Trang tại địa chỉ trên thay H nhưng chưa giao được thì bị lực lượng bắt quả tang và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật. Cả hai lần trên, ngoài việc bị cáo H mua đồ ăn cùng ăn chung với nhau thì bị cáo H chưa cho tiền bị cáo lần nào. Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với kết luận giám định và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa nhưng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Bị cáo Nguyễn Quốc H trình bày lời bào chữa: Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố không oan, sai. Tại tờ tự khai ngày 17/7/2021, lời khai 17/7/2021 và lời khai ngày 19/7/2021 là do bị cáo tự nguyện khai, không ai ép buộc hoặc dùng nhục hình buộc bị cáo phải khai. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra có kiểm tra điện thoại của bị cáo phát hiện tin nhắn, cuộc gọi điện thoại đi - đến giữa các bị cáo với nhau, giữa bị cáo với Lê Thị Trang thông qua mạng xã hội Zalo, messenger và bị cáo có ký xác nhận nội dung tin nhắn, cuộc gọi này là chính của bị cáo. Đồng thời, số ma túy bị cáo Tuấn bị bắt quả tang vào ngày 16/7/2021 là của bị cáo đưa cho bị cáo T đi giao cho Lê Thị Trang, bị cáo đã ba lần thực hiện hành vi bán ma túy cho Trang và nhận từ Trang số tiền bán ma túy là 1.800.000đ, số tiền này bị cáo dùng trả tiền mua ma túy từ người thanh niên tên Bi (không rõ họ, địa chỉ) và mua đồ ăn cùng ăn với T nhưng chưa chia tiền cho bị cáo T lần nào. Do đó, bị cáo đồng ý với kết luận giám định và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa nhưng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Các bị cáo thừa nhận việc giao dịch mua bán trái phép chất ma túy giữa các bị cáo với đối tượng nghiện Lê Thị Trang được thực hiện bằng hình thức nhắn tin trao đổi qua mạng xã hội Zalo, gọi điện thoại qua messenger. Các bị cáo đã thực hiện bán trái phép chất ma túy cho Trang nhiều lần, cụ thể: Vào ngày 14/7/2021, bị cáo H bán ma túy trực tiếp cho Trang 01 viên thuốc lắc, 01 bọc ma túy dạng khây với số tiền là 900.000đ đến ngày 15/7/2021, bị cáo T chở bị cáo H bán ma túy cho Trang 01 viên thuốc lắc, 01 bọc ma túy dạng khây cũng với số tiền 900.000đ và ngày 16/7/2021, bị cáo H kêu bị cáo T đến giao ma túy cho Trang 02 viên thuốc lắc có khối lượng 0,2405 gam loại Ketamine cùng với 01 bọc ma túy dạng khây có khối lượng 0,7151 gam loại MDMA với giá là 1.200.000đ nhưng chưa giao nhận thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật. Cả ba lần bán ma túy trên, các bị cáo đều bán cho Trang tại phòng số 50, nhà trọ Huỳnh Long thuộc khóm 1, phường A, thành phố Cà Mau. Trong cả ba lần bán ma túy, bị cáo H chỉ trực tiếp bán, nhận tiền từ Trang 02 lần vào các ngày 14, 15 tháng 7 năm 2021với số là 1.800.000đ, số tiền trên bị cáo H không chia cho bị cáo T mà mua thức ăn và ăn cùng với bị cáo T.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của đối tượng nghiện Lê Thị Trang, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra và kết luận giám định. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết ma tuý là loại độc dược gây nghiện, Nhà nước nghiêm cấm mua bán trái phép dưới mọi hình thức và biết được tác hại của ma tuý nhưng vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hơn nữa, việc bị cáo H bán ma túy cho Trang 03 lần trong đó, bị cáo T tham gia bán ma túy cho Trang 02 lần thuộc tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội bởi chính tác hại của ma tuý gây ra, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi, là mầm móng cho việc lây lan bệnh tật, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác đặc biệt loại tội phạm này, hiện ngày càng gia tăng, mức độ thực hiện tinh vi và người thực hiện hành vi phạm tội ngày càng trẻ hóa, việc phòng chống gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm nên cần xử lý thật nghiêm nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, sống có ích cho gia đình, cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có, nhưng các bị cáo có nhân thân xấu bởi bị cáo H có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Riêng bị cáo T, đã bị Tòa án nhân nhân huyên U xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội trộm cắp tài sản vào năm 2019, chấp hành xong hình phạt ngày 22/7/2020 tuy đến ngày thực hiện hành vi phạm tội chưa hết thời hạn 01 năm để được xem là đương nhiên xóa án tích theo khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự nhưng do tại thời điểm Tòa án nhân dân huyện U xét xử, bị cáo là người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng nên lần phạm tội này theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự, bị cáo đã được xóa án tích.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Riêng bị cáo T có ông ngoại là Huỳnh Nghĩa Q là người có công được Chủ tịch nước tặng Huân Chương kháng chiến, là thương binh hạng 3/4 nên áp dụng các tình tiết trên là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo T và áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo H là phù hợp.

Với đánh giá tại các đoạn [1], [2], [3] và [4] nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, cấu kết chặt chẽ vai trò của từng bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo H là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy còn bị cáo T là người giúp sức cho bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội nên mức hình phạt của bị cáo H sẽ cao hơn so với bị cáo T. Do đó, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận, tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, đảm bảo được tính răn đe, giáo dục và thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải như các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án, là 01 (một) điện thoại Iphone màu đen, bể màn hình có chữ IC: 579C-E3092A thu giữ của bị cáo T và 01 (một) điện thoại Iphone màu đen có số sim 0914358672 thu giữa của bị cáo H, hiện các điện thoại này đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau quản lý. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, chứng minh được các bị cáo dùng điện thoại trên vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước. Riêng 01 (một) phong bì hoàn mẫu vật của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, niêm phong vụ số 160/GĐH-PC09, ngày 22/7/2021 cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với các tài sản khác, đã được xử lý trong quá trình điều tra, nên Hội đồng xét xử không đề cặp xem xét là phù hợp. Riêng số tiền 1.800.000đ, bị cáo H nhận được từ việc bán ma túy cho đối tượng Lê Thị Trang – Đây là số tiền thu lợi bất chính mà có được, tuy các bị cáo có cùng sử dụng số tiền này vào việc ăn uống chung nhưng tại tòa, các bị cáo không xác định số tiền dùng chung là bao nhiêu trong khi tiền bán ma túy do bị cáo H nhận từ Trang và giữ số tiền này nên buộc bị cáo H nộp lại sung vào ngân sách nhà nước mà không buộc bị cáo T cùng nộp lại là hợp lý.

Đối với đối tượng Lê Thị Trang là người mua ma túy của các bị cáo để sử dụng, hiện đã bị Công an thành phố Cà Mau ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử không để cập xem xét.

Đối với các lần bán ma túy tại khách sạn Thanh Nhàn, nhà nghỉ Khánh Duy mà bị cáo T đã khai đi bán cùng bị cáo H, do không xác định được người mua và bị cáo H không thừa nhận nên chưa đủ cơ sở kết luận các bị cáo cùng bán ma túy vào các lần này. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên không xem xét xử lý những lần này là có cơ sở.

Về án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo phải chịu theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/7/2021.

2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Dương Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Dương Quốc T 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/7/2021.

3. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì là mẫu vật hoàn lại sau khi giám định đã được niêm phong số: 160/GĐH-PC09, ngày 22/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau ký hiệu M.62/2021.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại Iphone màu đen, bể màn hình có chữ IC: 579C-E3092A thu giữ của bị cáo T và 01 (một) điện thoại Iphone màu đen có số sim 0914358672 thu giữa của bị cáo H.

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc H nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy mà có là 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

4. Căn cứ vào các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo phải chịu số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng, chưa nộp).

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ