- Tranh chấp gì? án hình sự — "- Tuyên bố bị cáo Võ Phúc D1 (Quân) phạm tội: «Mua bán trái phép chất ma túy» và phạm tội: «Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Phúc D1 (Quân) phạm tội: «Mua bán trái phép chất ma túy» và phạm tội: «Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy».
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2022/HS-ST Ngày: 29/3/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Kim Hoàng.
Ông Hoàng Hữu Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Võ Phúc D1 (tên thường gọi là Q); Sinh ngày: 01/02/1996; Tại: Tỉnh Bình Thuận; Thường trú: Thôn ĐT, xã MM, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: 247/30/8 đường LLQ, Phường C, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Vũ công; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Lâm Ph (chết) và bà: Lê Thị Ánh Hồng B ; Có vợ: Không và con: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 03/9/2021.
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
2. Lê Hoàng D2 (tên thường gọi là K); Sinh ngày: 06/7/1985; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 38/73A đường LBT, Phường M, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Hoàng Ph và bà: Nguyễn Thị Thu Ng; Có vợ: Không và con: Không; Tiền án: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 03/9/2021.
Tiền sự:
- Ngày 27/6/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 84/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 30/01/2021 (Giấy chứng nhận số: 871/GCN-CS3 ngày 28/12/2020 của Cơ sở cai nghiện ma túy Số 3).
- Ngày 25/6/2021, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 13, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường 03 tháng về hành vi tái sử dụng ma túy (Quyết định số: 776/QĐ-UBND).
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 03/9/2021, tại trước nhà số 179 đường MP, Phường I, Quận F, tổ công tác phòng chống tội phạm và phòng chống dịch bệnh Covid-19 thuộc Công an Phường 9, Quận 6 trên đường tuần tra phát hiện Lê Hoàng D2 đang đi bộ trên đường MP có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác đã thu giữ của D2 03 gói nylon chứa tinh thể không màu (02 gói để trong bóp cất trong túi quần phía sau bên phải, 01 gói để trong túi xách màu đen đeo trên vai), nên đã giao D2 cùng vật chứng nêu trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Hoàng D2 khai: Khoảng 08 giờ ngày 02/9/2021, D2 đến nhà của Võ Phúc D1 tại số 247/30/8 đường LLQ, Phường C, Quận K mua 01 gói ma túy đá giá 500.000 đồng, đồng thời lợi dụng lúc D1 không để ý, D2 đã lén lút lấy trộm của D1 02 gói ma túy giấu vào bóp cất trong túi quần phía sau bên phải. Sau đó, D2 đi về đến trước nhà số 179 đường MP thì bị kiểm tra bắt giữ như nêu trên.
Từ lời khai của Lê Hoàng D2 về nguồn gốc ma túy. Vào lúc 18 giờ ngày 03/9/2021, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Võ Phúc D1 tại nhà số 247/30/8 đường LLQ, Phường C, Quận K. Qua kiểm tra, đã thu giữ của D1 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: 02 bình thủy tinh loại nhỏ, 01 ống thủy tinh, 03 ống hút bằng nhựa); 27 gói giấy (bên trong mỗi gói giấy có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu); 10 ống hút bằng nhựa; 10 ống thủy tinh; 10 gói nylon có rãnh âm dương; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh dương.
Tại Cơ quan điều tra, Võ Phúc D1 khai: Ngày 31/8/2021, D1 lên mạng xã hội (trang mạng Tinder) đặt mua ma túy tổng hợp (loại ma túy đá) với giá 9.000.000 đồng và 10 ống thủy tinh với giá 500.000 đồng từ một người đàn ông (không rõ lai lịch), người đàn ông này đồng ý và đem đến nhà giao cho D1 30 gói ma túy và 10 ống thủy tinh. Đến 08 giờ ngày 02/9/2021, Lê Hoàng D2 đến nhà gặp D1 thì thấy trên bàn có để sẵn bộ dụng cụ sử dụng ma túy (D1 đã sử dụng hết), nên xin hút vài hơi, D1 đồng ý. Sau đó, D2 hỏi mua 01 gói ma túy giá 500.000 đồng. Trong lúc lấy gói ma túy bán cho Dũng, D1 làm rơi 02 gói xuống đất và D2 đã lén nhặt lên giấu trong bóp cất trong túi quần phía sau bên phải của D2.
Theo Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 03 tháng 9 năm 2021 của Bệnh viện Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, Võ Phúc D1 dương tính với ma túy (chất dạng Heroine, Marijuana)
Theo Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 03 tháng 9 năm 2021 của Trạm y tế Phường 9, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Hoàng D2 dương tính với ma túy (chất dạng Amphetamine).
Tại Kết luận giám định số: 4896/KLGĐ-MT ngày 07 tháng 9 năm 2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 03 gói được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên NMT (Điều tra viên), ĐTK (người chứng kiến), Võ Phúc D1 và hình dấu Công an Phường 3, Quận 11. Bên trong có:
- Gói 1: Tinh thể không màu trong 05 gói nylon cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,3458g (ba phẩy ba bốn năm tám gam), loại Methamphetamine.
- Gói 2: Tinh thể không màu trong 15 gói nylon cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,9525g (bốn phẩy chín năm hai năm gam), loại Methamphetamine.
- Gói 3: Tinh thể không màu trong 07 gói giấy cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,3788g (ba phẩy ba bảy tám tám gam), loại Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số: 4891/KLGĐ-H ngày 10 tháng 9 năm 2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 02 gói được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên NMT (Điều tra viên), TAK (người chứng kiến), Lê Hoàng D2 và hình dấu Công an Phường 9, Quận 6. Bên trong có:
- Gói 1: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,7546g (không phẩy bảy năm bốn sáu gam), loại Methamphetamine.
- Gói 2: Tinh thể không màu trong 01 gói giấy cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4491g (không phẩy bốn bốn chín một gam), loại Methamphetamine.
Đối với hành vi Lê Hoàng D2 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà Võ Phúc D1 đã sử dụng hết sử dụng lại, do cả hai đều nghiện ma túy và không có sự bàn bạc trước, nên không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D1 về hành vi «Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy» theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Võ Phúc D1, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 không xác định được lai lịch.
Tại Cáo trạng số: 10/CT-VKS-Q6 ngày 15 tháng 02 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Võ Phúc D1 về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» và tội «Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy» theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251; điểm đ khoản 2 Điều 254 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Lê Hoàng D2 về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» và tội «Chiếm đoạt trái phép chất ma túy» theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1 Điều 252 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lê Hoàng D2 khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện hành vi cất giữ 03 gói ma túy tổng hợp (loại ma túy đá) để sử dụng (trong đó, có 01 gói thu giữ trong túi xách màu đen đeo trên vai là bị cáo mua của Võ Phúc D1 với giá 500.000 đồng, còn 02 gói thu giữ trong bóp cất trong túi quần phía sau bên phải là bị cáo lấy trộm tại nhà của D1 - số 247/30/8 đường LLQ, Phường C, Quận K vào sáng ngày 02/9/2021). Ngoài ra, bị cáo D2 khai sáng ngày 02/9/2021, bị cáo đến nhà của D1 mua ma túy thì thấy trên bàn trong phòng ngủ của D1 có để sẵn bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên xin D1 hút một, hai hơi, nhưng do bên trong đã hết ma túy nên bị cáo cũng không sử dụng được gì;
Bị cáo Võ Phúc D1 khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện hành vi mua bán ma túy tổng hợp (loại ma túy đá) như nội dung bản cáo trạng nêu, đồng thời xác nhận lời khai của bị cáo Lê Hoàng D2 tại phiên tòa là đúng và không có ý kiến gì thêm. Ngoài ra, bị cáo còn khai 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 bình thủy tinh loại nhỏ, 01 ống thủy tinh, 03 ống hút bằng nhựa); 10 ống thủy tinh; 10 ống hút bằng nhựa mà Công an thu giữ tại nhà số 247/30/8 đường LLQ, Phường C, Quận K là của bị cáo mua và bị cáo xác nhận 10 ống thủy tinh và 10 ống hút bằng nhựa này là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá, bị cáo cất giữ để dành sử dụng khi có nhu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Võ Phúc D1, Lê Hoàng D2 như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Phạt bị cáo Võ Phúc D1 từ 09 năm đến 10 năm tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy»; từ 06 năm đến 07 năm tù về tội «Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy» theo điểm i khoản 2 Điều 251; điểm đ khoản 2 Điều 254; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội theo điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phạt bị cáo Lê Hoàng D2 từ 02 năm đến 03 năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy»; từ 02 năm đến 03 năm tù về tội «Chiếm đoạt trái phép chất ma túy» theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1 Điều 252; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội theo điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phạt tiền bị cáo Võ Phúc D1 từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Còn bị cáo Lê Hoàng D2 không có khả năng thi hành, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo này.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động màu xanh dương, mặt sau có ghi chữ Iphone, model: Iphone 12 Pro, dung lượng 256Gb, số Imei 1: 356037843542564, Imei 2: 356037843647639, đã được niêm phong, có các chữ ký ghi tên MTT (Điều tra viên), Võ Phúc D1 và hình dấu Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tịch thu, tiêu hủy: 03 gói bên ngoài có ghi vụ số: 4896/21, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên PTQ, cán bộ điều tra PTN. Bên trong có: gói 1 chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 3,2240 gam, gói 2 chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 4,6232 gam, gói 3 chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 3,1815 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 02 gói bên ngoài có ghi vụ số: 4891/21, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên NXS, cán bộ điều tra LVVL. Bên trong có: gói 1 chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 0,7203 gam, gói 2 chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,3600 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 túi đeo màu đen, có kích thước 21cm x 22cm; 01 bóp màu nâu, có kích thước 12cm x 9,5cm; 01 bao giấy (hình dạng giống bao lì xì), kích thước 16cm x 7,3cm; 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bình thủy tinh (loại nhỏ), 01 ống thủy tinh, 03 ống hút bằng nhựa; 10 ống thủy tinh; 10 ống hút bằng nhựa; 10 gói nylon có rãnh âm dương; 01 rổ nhựa màu đỏ, kích thước 36cm x 16cm x 8cm; 01 bóp màu đen, có kích thước 18,5cm x 10cm; 02 sim điện thoại số 0327464716 và số 0353939432.
Trả lại bị cáo Lê Hoàng D2 02 chiếc điện thoại di động (01 chiếc màu vàng, mặt sau có ghi chữ Iphone; 01 chiếc bị bể màn hình, mặt trước và mặt sau có ghi chữ Sony), đều đã được niêm phong, có các chữ ký ghi tên MTT (Điều tra viên), Lê Hoàng D2 và hình dấu Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Lời nói sau cùng, các bị cáo Võ Phúc D1, Lê Hoàng D2 đều cho rằng trong thời gian bị tạm giam, các bị cáo đã nhận thức được hành vi của các bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật, nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt các bị cáo mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo; người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối chiếu lời khai của các bị cáo Võ Phúc D1, Lê Hoàng D2 tại phiên tòa là phù hợp với nhau và phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định số: 4896/KLGĐ-H ngày 07/9/2021 và số: 4891/KLGĐ-H ngày 10/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh; lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Phúc D1 đã phạm các tội «Mua bán trái phép chất ma túy», «Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy»; tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251, Điều 254 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Lê Hoàng D2 đã phạm các tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy», «Chiếm đoạt trái phép chất ma túy»; tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249, Điều 252 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).
Bị cáo Võ Phúc D1 đã mua bán chất ma túy ở thể rắn và chất ma túy mà bị cáo Võ Phúc D1 cất giữ để bán có tổng khối lượng là 12,8808 gam, loại Methamphetamine (toàn bộ số ma túy này bị cáo Võ Phúc D1 xác nhận là của bị cáo cất giữ nhằm mục đích bán cho những người nghiện thu lợi). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp «Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam» theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Ngoài ra, khi bắt giữ và khám xét nơi ở của bị cáo Võ Phúc D1 tại nhà số 247/30/8 đường LLQ, Phường C, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an đã phát hiện thu giữ của bị cáo ngoài 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 bình thủy tinh loại nhỏ, 01 ống thủy tinh, 03 ống hút bằng nhựa), còn có 20 đơn vị dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy (gồm 10 ống thủy tinh và 10 ống hút bằng nhựa). Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội «Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy «Có số lượng từ 20 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại trở lên» theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 254 của Bộ luật hình sự năm 2015, đúng như Viện kiểm sát truy tố.
Bị cáo Lê Hoàng D2 đã cất giữ chất ma túy ở thể rắn và thời điểm phát hiện bắt quả tang (vào lúc 08 giờ ngày 03/9/2021 tại trước nhà số 179 đường MP, Phường I, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh) đã thu giữ trong túi xách màu đen (bị cáo đang đeo trên vai) 01 gói nylon bên trong có 0,4491 gam ma túy, loại Methamphetamine (bị cáo khai số ma túy này là bị cáo mua của bị cáo Võ Phúc D1 với giá 500.000 đồng). Ngoài ra, còn thu giữ trong bóp để trong túi quần phía sau bên phải của bị cáo 02 gói nylon bên trong có 0,7546 gam ma túy, loại Methamphetamine (bị cáo khai số ma túy này là bị cáo lén lút lấy trộm của Võ Phúc D1 vào sáng ngày 02/9/2021 - Lời khai này của bị cáo Lê Hoàng D2 phù hợp với lời khai của bị cáo Võ Phúc D1 tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» và tội «Chiếm đoạt trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp «Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam» theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm c khoản 1 Điều 252 của Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của các bị cáo Võ Phúc D1, Lê Hoàng D2 không những đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền trong việc quản lý, trao đổi, cất giữ chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an chung.
Các bị cáo Võ Phúc D1, Lê Hoàng D2 đều là những người đã trưởng thành. Các bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng do hám lợi (đối với bị cáo Võ Phúc D1), để thỏa mãn lối sống không lành mạnh (đối với bị cáo Lê Hoàng D2) và nhất là xem thường pháp luật, nên các bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Bản thân bị cáo Lê Hoàng D2 ngày 27/6/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 11 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy; ngày 25/6/2021, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 13, Quận 11 quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường 03 tháng về hành vi tái sử dụng ma túy. Lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện, tu dưỡng để trở thành người có ích cho gia đình và cho xã hội, nhưng ngược lại, vẫn tiếp tục sống buông thả và phạm tội. Cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là không tốt.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Võ Phúc D1 là rất nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo Lê Hoàng D2 là nghiêm trọng. Mặt khác, ma túy nói chung và các chất ma túy ở thể rắn như Methamphetamine nói riêng là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của chính người sử dụng và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt các bị cáo những mức án thật nghiêm khắc tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu. Riêng bị cáo Võ Phúc D1 có nhân thân tốt, hiện đang bệnh nặng (kháng thể kháng HIV dương tính), nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình tùy theo tính chất, mức độ, vai trò của từng bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Võ Phúc D1 theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Đối với bị cáo Lê Hoàng D2 thì theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo phạm tội không vụ lợi, là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 252 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Còn số tiền mà bị cáo Võ Phúc D1 khai thu lợi từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy, do không xác định được chính xác số tiền thu lợi này, nên Hội đồng xét xử không đủ căn cứ để buộc bị cáo nộp lại.
Việc xử lý vật chứng:
Phương tiện mà bị cáo Võ Phúc D1 dùng vào việc phạm tội là 01 chiếc điện thoại di động màu xanh dương, mặt sau có ghi chữ Iphone, model: Iphone 12 Pro, dung lượng 256Gb, số Imei 1: 356037843542564, Imei 2: 356037843647639, đã được niêm phong, có các chữ ký ghi tên MTT (Điều tra viên), Võ Phúc D1 và hình dấu Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Riêng 03 gói bên ngoài có ghi vụ số: 4896/21, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên PTQ, cán bộ điều tra PTN. Bên trong có: gói 1 chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 3,2240 gam, gói 2 chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 4,6232 gam, gói 3 chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 3,1815 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 02 gói bên ngoài có ghi vụ số: 4891/21, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên NXS, cán bộ điều tra LVVL. Bên trong có: gói 1 chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 0,7203 gam, gói 2 chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,3600 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 túi đeo màu đen, có kích thước 21cm x 22cm; 01 bóp màu nâu, có kích thước 12cm x 9,5cm; 01 bao giấy (hình dạng giống bao lì xì), kích thước 16cm x 7,3cm; 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bình thủy tinh (loại nhỏ), 01 ống thủy tinh, 03 ống hút bằng nhựa; 10 ống thủy tinh; 10 ống hút bằng nhựa; 10 gói nylon có rãnh âm dương; 01 rổ nhựa màu đỏ, kích thước 36cm x 16cm x 8cm; 01 bóp màu đen, có kích thước 18,5cm x 10cm; 02 sim điện thoại số 0327464716 và số 0353939432 (trong chiếc điện thoại di động màu xanh dương, mặt sau có ghi chữ Iphone), là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ; vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Còn 02 chiếc điện thoại di động (01 chiếc màu vàng, mặt sau có ghi chữ Iphone; 01 chiếc bị bể màn hình, mặt trước và mặt sau có ghi chữ Sony), đều đã được niêm phong, có các chữ ký ghi tên MTT (Điều tra viên), Lê Hoàng D2 và hình dấu Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ của bị cáo Lê Hoàng D2. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo vì không đủ căn cứ xác định do bị cáo phạm tội mà có hay bị cáo đã hoặc sẽ dùng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 11/PNK ngày 26 tháng 01 năm 2022 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 10/QĐ-VKS-Q6 ngày 15 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17 tháng 3 năm 2022 giữa Công an Quận 6 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6)
Việc Lê Hoàng D2 đến phòng trọ của Võ Phúc D1 chơi và thấy trên bàn có để sẵn bộ dụng cụ sử dụng ma túy (D1 đã sử dụng hết), nên lấy sử dụng lại. Quá trình điều tra không đủ cơ sở xác định D1 có hành vi rủ rê, lôi kéo, tổ chức cho D2sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở do D1 quản lý, do đó không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D1 về hành vi «Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy» hay hành vi «Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy», nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Võ Phúc D1, do bị cáo khai không rõ nhân thân lai lịch, nên không có cơ sở điều tra làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Các bị cáo Võ Phúc D1, Lê Hoàng D2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Võ Phúc D1 (Quân) phạm tội: «Mua bán trái phép chất ma túy» và phạm tội: «Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy».
- Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng D2 (Kiệt) phạm tội: «Tàng trữ trái phép chất ma túy» và phạm tội: «Chiếm đoạt trái phép chất ma túy».
- Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm đ khoản 2 Điều 254; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Võ Phúc D1 (Quân) 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» và 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội «Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy». Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 14 (mười bốn) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2021.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1 Điều 252; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Lê Hoàng D2 (Kiệt) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội «Chiếm đoạt trái phép chất ma túy». Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2021.
- Căn cứ khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Buộc bị cáo Võ Phúc D1 nộp phạt 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh dương, mặt sau có ghi chữ Iphone, model: Iphone 12 Pro, dung lượng 256Gb, số Imei 1: 356037843542564, Imei 2: 356037843647639, đã được niêm phong, có các chữ ký ghi tên MTT (Điều tra viên), Võ Phúc D1 và hình dấu Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 03 (ba) gói bên ngoài có ghi vụ số: 4896/21, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên PTQ, cán bộ điều tra PTN. Bên trong có: gói 1 chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 3,2240 (ba phẩy hai hai bốn không) gam, gói 2 chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 4,6232 (bốn phẩy sáu hai ba hai) gam, gói 3 chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 3,1815 (ba phẩy một tám một năm) gam; 02 (hai) gói bên ngoài có ghi vụ số: 4891/21, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên NXS, cán bộ điều tra LVVL. Bên trong có: gói 1 chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 0,7203 (không phẩy bảy hai không ba) gam, gói 2 chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,3600 (không phẩy ba sáu không không) gam; 01 (một) túi đeo màu đen, có kích thước 21cm x 22cm; 01 (một) bóp màu nâu, có kích thước 12cm x 9,5cm; 01 (một) bao giấy (hình dạng giống bao lì xì), kích thước 16cm x 7,3cm; 02 (hai) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) bình thủy tinh (loại nhỏ), 01 (một) ống thủy tinh, 03 (ba) ống hút bằng nhựa; 10 (mười) ống thủy tinh; 10 (mười) ống hút bằng nhựa; 10 (mười) gói nylon có rãnh âm dương; 01 (một) rổ nhựa màu đỏ, kích thước 36cm x 16cm x 8cm; 01 (một) bóp màu đen, có kích thước 18,5cm x 10cm; 02 (hai) sim điện thoại số 0327464716 và số 0353939432.
- Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại bị cáo Lê Hoàng D2 02 (hai) chiếc điện thoại di động (01 chiếc màu vàng, mặt sau có ghi chữ Iphone; 01 chiếc bị bể màn hình, mặt trước và mặt sau có ghi chữ Sony), đều đã được niêm phong, có các chữ ký ghi tên MTT (Điều tra viên), Lê Hoàng D2 và hình dấu Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các bị cáo Võ Phúc D1, Lê Hoàng D2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND Quận 6; - Công an Quận 6; - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06); - Chi cục THADS Quận 6; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Các bị cáo. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Liên |