vanban.org

Bản án 18/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 28/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm b khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Hoàng Thị T phải chịu hìn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị T - MBTPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm b khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 256 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TAND HUYỆN TÂN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HS-ST
Ngày 28-12-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh;

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Đình Cường;

2. Bà Nguyễn Thị Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Giang Tiến Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Thị T, tên gọi khác: Không, sinh năm 1982 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn O - sinh năm 1960 và con bà: Điềm Thị N - sinh năm 1960; chồng: Lù Văn B - sinh năm 1980; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2008.

Tiền án; tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 15/6/2022, đến ngày 24/6/2022 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Tân Uyên đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Anh Lường Văn T - sinh năm 1999 (vắng mặt).

2. Anh Lù Văn H - sinh năm 1999 (vắng mặt).

Đều trú tại: Bản P, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu.

3. Liềm Văn N - sinh năm 2000; trú tại: Bản P, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

4. Anh Lù Văn V - sinh năm 2002; trú tại: Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

- Người phiên dịch tiếng dân tộc Thái cho bị cáo: Ông Lò Văn Thắm, sinh năm 1986. Địa chỉ: Tổ dân phố 26, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ, ngày 15/6/2022, Hoàng Thị T nhìn thấy chồng là Lù Văn B cất giấu 02 gói Heroine bên ngoài mỗi gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh vào trong túi áo để ở buồng ngủ. Thấy vậy, T đã T ý lấy và cất giấu 02 gói Heroine này vào trong chiếc áo màu xám của T để ở dưới chân buồng ngủ của gia đình, mục đích để ngăn không cho B sử dụng Heroine.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Lường Văn T và Lù Văn H đã cùng nhau đến nhà Liềm Văn N tại bản Phiêng Hoi, xã Bản Bo, huyện Tam Đường để chơi. Khi gặp N, cả ba người cùng rủ nhau đi mua Heroine để sử dụng nhưng chỉ có T và H có tiền để mua còn N thì xin được sử dụng Heroine cùng T và H. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Liềm Văn N, Lường Văn T và Lù Văn H cùng đến nhà của B hỏi mua Heroine, khi T nơi thì chỉ có một mình Hoàng Thị T ở nhà còn chồng T là Lù Văn B ra ngoài đi làm. Tại nhà T thì T và N lên nhà trước (nhà sàn) còn H đi vệ sinh nên đi lên sau. Khi gặp T, T đã hỏi mua Heroine của T với số tiền 100.000 đồng, sau khi nhận tiền của T thì T đã trích 01 phần trong gói Heroine đang cất giấu trong chiếc áo màu xám để ở dưới chân để bán cho T. Mua được Heroine, T cấu lấy một phần trong gói Heroine vừa mua và gói lại bằng mảnh nilon màu xanh rồi cất vào túi quần bên trái đang mặc mục đích mang về nhà sử dụng nhưng không cho N biết. Phần Heroine còn lại T và N cùng nhau sử dụng hết tại bàn uống nước cách chỗ T ngồi khoảng 02 mét, T nhìn thấy nhưng để mặc không nói gì.

Sau khi N và T sử dụng Heroine thì Lù Văn H đi lên nhà gặp T, H hỏi mua T Heroine với số tiền 100.000 đồng, T đồng ý. Sau khi nhận tiền của H, T tiếp tục trích 01 phần Heroine trong gói Heroine mà T cất giấu ở chiếc áo màu xám để ở dưới chân và gói lại bằng mảnh nilon màu xanh đưa cho H. Phần Heroine còn lại T gói bằng mảnh nilon màu xanh và cất giấu trong chiếc áo màu xám rồi để ở dưới chân, mục đích để tiếp tục bán. Sau khi mua được Heroine, H cắt lấy một phần trong gói Heroine vừa mua gói lại bằng mảnh nilon màu xanh ban đầu rồi cất vào túi quần bên trái đang mặc để mang về nhà sử dụng nhưng không cho N biết. Phần Heroine còn lại H cùng N và T sử dụng hết tại bàn uống nước cách chỗ T đang ngồi khoảng 02 mét, T nhìn thấy nhưng cũng để mặc không nói gì. Ngay sau đó vào hồi 21 giờ 20 phút cùng ngày, Hoàng Thị T bị Công an huyện Tân Uyên phát hiện bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ trong chiếc áo màu xám ngay cạnh chỗ ngồi của T 01 gói Heroine bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu xanh có khối lượng 0,02 gam và số tiền 200.000 đồng do T bán Heroine cho T và H mà có. Bắt quả tang Lù Văn H, Lường Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ trong túi quần bên trái đang mặc của Lường Văn T một gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh có khối lượng 0,02 gam; thu giữ trong túi quần bên trái đang mặc của Lù Văn H 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh có khối lượng 0,04 gam. Theo T và H khai nhận số Heroine này là vừa mua được của T, mục đích để sử dụng. Thu giữ tại bàn uống nước nhà của T 01 bật lửa màu đỏ và 01 mảnh giấy bạc màu trắng đã bị cháy dở. Quá trình mua bán, sử dụng trái phép Heroine của T, H, T, N tại nhà T còn có Lù Văn V đến chơi ở đó biết và chứng kiến.

Ngày 15/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên đã tiến hành thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 37/KL-TCGĐ ngày 16/6/2022 của người giám định tư pháp, kết luận vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Hoàng Thị T có khối lượng là 0,02 gam; Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lường Văn T có khối lượng là 0,02 gam; Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lù Văn H có khối lượng là 0,04 gam.

Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên đã lấy toàn bộ 0,02 gam chất bột khô màu trắng thu giữ của Lường Văn T; 0,04 gam chất bột khô màu trắng thu giữ của Lù Văn H; 0,02 gam chất bột khô màu trắng thu giữ của Hoàng Thị T. Theo T, H, T khai nhận là Heroine để gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 562/GĐ-KTHS ngày 19/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 03 (ba) Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Hoàng Thị T, Lường Văn T và Lù Văn H gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên tiến hành trưng cầu giám định số tiền 200.000 đồng thu giữ của Hoàng Thị T theo T khai nhận đây là số tiền do T bán Heroine cho Lường Văn T và Lù Văn H mà có. Tại kết luận giám định số 561/KL-KTHS ngày 20/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lai Châu kết luận: Số tiền 200.000 VNĐ gửi đến giám định là tiền thật.

Bản Cáo trạng số 82/CT -VKS - TU, ngày 07/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Hoàng Thị T về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm b khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Thị T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chịu từ 14 năm tù đến 15 năm tù và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng; tịch thu tiêu hủy: 03 mảnh nilon màu xanh, 01 bật lửa màu đỏ, 01 mảnh giấy bạc màu trắng đã bị cháy dở.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình T, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 20 giờ đến 21 giờ ngày 15/6/2022, tại nhà thuộc quyền quản lý của Hoàng Thị T ở bản Nà An, xã Mường Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Hoàng Thị T đã 02 lần thực hiện hành vi bán trái phép Heroine, cụ thể: Lần thứ nhất bán cho Lường Văn T 01 gói Heroine lấy số tiền 100.000 đồng; lần thứ hai bán trái phép 01 gói Heroine cho Lù Văn H lấy số tiền 100.000 đồng. Sau khi bán trái phép Heroine, cũng tại nơi ở thuộc quyền quản lý của mình, Hoàng Thị T đã 02 lần bỏ mặc cho nhiều người sử dụng trái phép Heroine, cụ thể: Lần thứ nhất bỏ mặc cho Lường Văn T và Liềm Văn N cùng sử dụng Heroine; lần thứ hai bỏ mặc cho Lù Văn H, Lường Văn T và Liềm Văn N cùng nhau sử dụng Heroine.

Hồi 21 giờ 20 phút cùng ngày, Hoàng Thị T bị Công an huyện Tân Uyên phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” thu giữ của Hoàng Thị T 01 gói Heroine có khối lượng 0,02 gam, mục đích để tiếp tục bán và số tiền 200.000 đồng do T bán Heroine cho H và T mà có. Đồng thời bắt quả tang Lù Văn H về hành vi tàng trữ trái phép 0,04 gam Heroine, bắt quả tang Lường Văn T về hành vi tàng trữ trái phép 0,02 gam Heroine.

Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hoàng Thị T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo làm ruộng, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- 03 mảnh nilon màu xanh, 01 bật lửa màu đỏ, 01 mảnh giấy bạc màu trắng đã bị cháy dở là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc hai gói Heroine Hoàng Thị T khai do T đã tự ý lấy của chồng là Lù Văn B, quá trình điều tra xác định Lù Văn B hiện không có mặt ở địa phương, không rõ B đi đâu, làm gì. Ngoài lời khai của Hoàng Thị T ra không có tài liệu, chứng cứ khác để xác định về nguồn gốc số Heroine và không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Thị T về hành vi này. Đối với Lù Văn B, đề nghị Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với các đối tượng Lường Văn T và Lù Văn H đã mua Heroine và sử dụng tại nhà của T, quá trình điều tra xác định T và H đều chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến tội phạm về ma túy, khối lượng Heroine thu giữ của T và H đều chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, vì vậy Công an huyện Tân Uyên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T và H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng quy định.

Đối với Liềm Văn N là người đi cùng Lường Văn T và Lù Văn H đi mua Heroine và đã cùng nhau sử dụng Heroine. Quá trình điều tra xác định N có chung mục đích đi mua Heroine để sử dụng cùng H, T, nhưng N không biết về việc H, T có cất giấu Heroine mang về sử dụng. N cũng không trao đổi thống nhất gì với T về việc bán Heroine cho H và T. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên không đề cập xử lý về trách nhiệm hình sự mà ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng quy định.

Đối với Lù Văn V đã đến nhà Hoàng Thị T để chơi, sau đó có biết và chứng kiến việc T bán Heroine cho H và T và bỏ mặc cho các đối tượng T, H, N sử dụng Heroine tại nhà. Quá trình điều tra xác định V chỉ đến chơi, không có mục đích gì khác, không tham gia bán Heroine cùng T và không sử dụng Heroine tại nhà T, thời điểm T mua bán và các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy do trời mưa và không có điện thoại nên V chưa kịp trình báo, cùng lúc các đối tượng trên đã bị Công an phát hiện bắt quả tang nên không có căn cứ để xử lý đối với Lù Văn V về hành vi không tố giác tội phạm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm b khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Hoàng Thị T phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 14 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2022.

Áp dụng khoản 5 Điều 251, khoản 3 Điều 256 Bộ luật Hình sự, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Thị T.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Hoàng Thị T.

- Tịch thu và tiêu hủy:

+ 01 phong bì Công an huyện Tân Uyên màu trắng, hình chữ nhật bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh.

+ 01 phong bì Công an huyện Tân Uyên màu trắng, hình chữ nhật bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh.

+ 01 phong bì Công an huyện Tân Uyên màu trắng, hình chữ nhật bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh.

+ 01 phong bì Công an huyện Tân Uyên màu trắng, hình chữ nhật bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc màu trắng bị cháy dở và 01 bật lửa màu đỏ.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 8 giờ 45 phút, ngày 22/12/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ